Nhà thơ Hữu Việt: Lấy sự tinh tế làm mới đơn vị chữ

Hữu Việt (tên khai sinh Trần Hữu Việt, sinh năm 1963, quê Nam Định), hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Nhà văn Hà Nội, hiện là Trưởng Ban Văn hóa Văn nghệ Báo Nhân Dân. Đến nay, Hữu Việt đã cho ra mắt bạn đọc 3 tập thơ: “Phố lạc tiên” (1994), “Đếm mùa” (1998), “Thơ bốn người” (in chung, 2000) và một tập thơ dịch “Khúc hát trái tim” (thơ dịch 2006) từng đoạt Giải thưởng văn học dịch của Hội Nhà văn Việt Nam. 

Đọc thơ Hữu Việt, tôi cứ liên tưởng đến một thứ mưa mỏng manh như sương khói thường xuất hiện vào tiết mưa xuân tháng giêng ở vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ. Sau làn mưa xuân mỏng manh như khói sương ấy, cảnh vật bỗng trở nên huyền ảo hơn, tưởng như gần đấy mà lại thoắt xa xôi, tuởng như đã chạm vào được mà lại tan đi không thấy gì.

Thứ thơ ấy - thứ mưa ấy cứ bảng lảng bên trời như đang mộng du cùng người thơ xuôi về những nẻo đường ký ức với bao nhiêu hoài niệm của một thủa yêu thương. Cái mới của nhà thơ trẻ này là nằm ở sự đổi mới cấu trúc của câu - chữ trong mỗi bài thơ mà bài “Thu Cửa Bắc” là một ví dụ:

Những cánh trắng rủ nhau rời phố
Mới chớm yêu gọi cửa
Mái xanh đã ngả thu rồi
Ta có lỗi chi mà lá rụng
Môi đợi lạc môi ngõ rộng
Em bỏ hôm nay cho đến bao giờ?
Giật mình vọng bước xưa…
Vết đại bác bạc đầu
Người đâu?
Gió ù
Ngâu Cửa Bắc
Phố thay chiều hoa vẫn ngược lối hương…

Trong không ít bài thơ thành công của mình, nhà thơ Hữu Việt không chỉ nghiêng về phía chú trọng làm mới đơn-vị-chữ mà anh còn coi trọng làm mới đơn-vị-bài để từ đó nắm bắt thi liệu và xây cất nên những tứ thơ khác lạ và khá độc đáo, mang lại những đột biến về mặt ý tưởng. Ví như, trong một bức - tranh - thơ, anh không chỉ dừng ở mức độ chấm phá, phát hiện các câu chữ mới mà còn cố gắng khắc họa chiều sâu của những hình tượng thơ và làm nên một diện mạo mới, một bố cục mới cho ngôn ngữ thơ mà bài thơ “Đò sông La” dưới đây là một dẫn liệu:

Lần đầu về Đức Thọ
Nằm dọc đò sông La
Cô gái đếm bom ngày đó
Tóc gội xanh bến nào

Mười tám má em dậy đỏ
Dưới trời bom tọa độ

Có phải em vẫn hò
Những chuyến đò đưa đầy cát
Trăng sáng bến Tam Soa gió hát
Sông thở
sóng mềm
đập mát bờ đêm
Trên cả hận thù
Trên cả lãng quên

Bài thơ đưa chúng ta về với ký ức của một thuở chiến tranh đã mờ xa trong ca khúc nổi tiếng thời kháng chiến chống Mỹ “Người con gái sông La” của nhạc sĩ Doãn Nho. Và trong bài thơ này, Hữu Việt chỉ cần tinh tế khơi gợi lại kỷ niệm xưa bằng một hình ảnh giản dị, lắng sâu và xúc động: “Cô gái đếm bom ngày đó/ Tóc gội xanh bến nào/ Mười tám má em dậy đỏ/ Dưới trời bom tọa độ” là trong tâm tưởng người đọc lại như đang ngân nga giai điệu thiết tha, trữ tình đầy lãng mạn của bài hát ngợi ca người con gái sông La ngày ấy đã vượt lên bom rơi, đạn nổ trên trận tuyến đánh thù trong ca khúc của Doãn Nho: “…Trời mô xanh bằng trời Can Lộc/ Nước mô xanh bằng dòng nước sông La/ Ai về Hà Tĩnh mà... quê ta/ Nhớ chăng đôi mắt người con gái sông La kiên cường/ Người con gái quê ta/ Đôi mắt trong tựa ngọc/ Đôi giọt nước sông La/ Thương như trời quê ta/ Em dõi theo từng ngày/ Đếm từng loạt bom rơi/ Cho bom nổ bên tai/ Em vẫn đứng giữa trời…”.

Sự đồng cảm của nhà thơ với nhạc sĩ trong bài thơ “Đò sông La” nằm chính ở thủ pháp đánh thức, khơi gợi tinh tế của ngôn ngữ thi ca chứ không cần tới sự trình diễn ồn ào náo nhiệt về cuộc chiến đã đi qua. Hình ảnh dũng cảm, tuyệt đẹp của người con gái sông La ngày xưa với “đôi mắt trong tựa ngọc” giờ đã hóa thân vào hình ảnh duyên dáng, đầy nữ tính của người thiếu nữ sông La hôm nay trong câu thơ thấm đẫm mỹ cảm: “Có phải em vẫn hò/ Những chuyến đò đưa đầy cát/ Trăng sáng bến Tam Soa gió hát/ Sông thở/ sóng mềm/ đập mát bờ đêm”.

Hữu Việt với cảm xúc trữ tình đầy tinh tế và khát khao tụng ca cái đẹp đã vẽ nên bức tranh thơ về người con gái sông La hôm nay. Và điều đặc biệt, vẻ đẹp thi vị ấy đã vượt lên: “Trên cả hận thù/ Trên cả lãng quên” trong câu kết đã đưa bài thơ bay lên trong một thi điệu nhân văn mới.

Ở một bình diện khác, Hữu Việt là một người thơ luôn coi trọng vẻ đẹp tinh tế, tươi mới của ngôn ngữ thơ và anh tỏ ra khá dày công khi chăm sóc từng câu chữ như trong bài thơ “Nếu em ngoái đầu nhìn lại” dưới đây:

Có hoa sữa rồi em ạ
Gió về trong ngõ ngủ ngoan
Nếu em ngoái đầu nhìn lại
Tóc bay nghiêng má trăng tròn

Trả nghĩa vầng trăng, mắc nợ cánh buồm
ướt một chiều chim én
Thôi đừng nhìn kiêu hãnh
Mùa thu cũng sắp qua rồi

Nếu em ngoái đầu nhìn lại
Đầm tàn còn một bông sen
Thức hương cho mùa lá hết

Vẫn còn một mảnh hồn anh
Khẽ run đầu cành gió rét

Bình thơ và đòi hỏi như vậy có quá chăng với Hữu Việt? Bởi mỗi người thơ tài năng đều có một tạng thơ riêng, một giọng điệu riêng, một miền đất riêng. Hữu Việt không quen nói những điều to tát, lớn lao, thơ anh cứ lẳng lặng kiên nhẫn làm mới từng con chữ. Thơ anh, ở một số bài, tuy giọng thơ còn cũ nhưng điệu thơ đã mới, đã cho thấy một hướng tìm tòi đáng ghi nhận:

Sơ tán tôi chưa đầy tuổi
Quen ngủ ngày và hay khóc đêm
Hình như tôi khai sinh: khát sữa
Dấu áo bà nhay cho đỡ nhớ
Ru đu chiều võng thu:
“Con ở với bà bà không có vú. Con ở với bố bố là đàn ông”
Mỗi lần về thăm
Mẹ thưòng lén lau nước mắt
Tôi nhập bầy trẻ làng
Học chăn trâu thả diều cắt cỏ
Trận mạc trẻ làng bên tranh mót lúa
Không ai nghĩ tôi quê… thành phố
Mộ bà mười năm xanh cỏ
Lòng còn thu võng đưa
Tôi về nơi sơ tán cũ
Kỷ niệm ùa chơi ngõ nhỏ
Ú tim một thủa lên mười.

Bài thơ giản dị trên lặng lẽ thấm vào ta một niềm tâm sự gần gũi đến trong lành mà xúc động - có lẽ thơ chỉ cần thế. Và có thể, ta cũng không nên đòi hỏi anh phải nghiền ngẫm, suy tư nhiều hơn thế.

Đọc không ít bài thơ của Hữu Việt, ta thấy phần “Cảm” nặng hơn phần “Nghĩ”, phần “Gợi” nhiều hơn phần “Nói” và phải chăng đấy cũng là một thủ pháp nghệ thuật làm nên giọng điệu thơ anh. Trong bài thơ “Một ngày và một người” dưới đây, cái phần “Cảm” và phần “Gợi” ấy lại chính là trục - diễn - ngôn “không lời” đi suốt 4 khổ thơ để ghi dấu một tâm trạng, để nắm bắt một khoảnh khắc đời người đã vụt trôi trong ký ức thời gian:

Một ngày buồn đông
Một chiều buồn trong
Mong một người không
Cách một xanh trời

Sao gặp lại người
Vào lúc ngả buồn
Chọn lúc yếu lòng
Tim ôm gió lộng

Ngày mai sẽ về
Sánh vai phố rộng
Đôi gò nắng ấm
Mắt rậm môi mềm

Còn lại ngày buồn
Gió không đủ lạnh
Lòng lành mưa tạnh
Đường dài như không ...

Nhiều năm, Hữu Việt coi nhà thơ Lê Đạt như một người thầy trong thi ca của mình và thơ anh ở không ít bài, có những nét chấm phá theo phong cách của nhà “Phu chữ” này với ý tưởng lấy sự tinh tế trong ngôn ngữ thơ để làm mới các đơn - vị - chữ. Sau khi nhà thơ Lê Đạt qua đời, trong bài thơ viết về người thầy từng được coi  là “Nhà phu chữ”, hình như Hữu Việt đã dựng được chân dung người thầy đầy kiến văn uyên bác của mình bằng đôi nét khắc họa khá giản dị, đời thường mà lại không kém phần đặc biệt:

Ông bảo người làm thơ
Phải có gan cãi nhau với cả nước
Nhưng tôi chưa thấy ông đôi co bao giờ
“Anh em văn nghệ,
Đoàn kết vẫn hơn là đánh lẫn nhau”
Và cười.

Ông bảo người ta có quyền được sai
Bằng quyền được đúng
Trong thơ, tất cả đều bình đẳng
“Tôi thích đối thoại hơn là đối thụi”
Lại cười.

Trời hành bệnh mất ngủ
Ông bảo có lần đã toan tự tử
Nhưng chữ còn nặng nợ - đành thôi
“Người ta có thể chết nhưng không thể thua”
Lần này ông không cười.

Ông bảo mình chịu thiệt nhiều thú vui
Để dành thời gian khuân vác chữ
Tôi biết ông có lúc… mải chơi
Cà phê Hàng Buồm tiếp khách cả ngày

Hôm nay đứng đầu phố Mã Mây
Nhớ ly cà phê đen đắng
Hình dung ông đang ngồi giữa miền mây trắng
Kể chuyện trần gian cho những bạn bè hoạn nạn của ông.

Ông rộng rãi, khoan dung, lịch sự
Chỉ nghiêm khắc những khi làm chữ
Và khi đọc thơ
Vì ông là: Lê Đạt.

(Nhà thơ)

Ở bài thơ trên, Hữu Việt dường như không còn phải nghiêng về phía tầng thi cảm lấy “Sự tinh tế làm mới đơn-vị-chữ trong thơ” nữa mà anh dùng thủ pháp tự sự, và khơi gợi chiều sâu liên tưởng bằng những suy ngẫm nhân sinh, đúc rút ra từ những câu nói như châm ngôn của cố nhà thơ Lê Đạt - ông như một nhà hiền triết trong cõi thơ và cõi đời nhiều thăng trầm, bụi bặm này. Theo tôi, đây là một trong những bài thơ hay của Hữu Việt trong quá trình tìm tòi, làm mới thơ của anh.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.