Nhà thơ Hải Đường: Cây hạnh phúc nắng chưa tròn bóng

Nhà thơ Hải Đường luôn trăn trở về sự đổi mới thơ ca. Anh đã từng hoang mang trước những trào lưu thơ hậu hiện đại và sự rối rắm của các trường phái; nào tượng trưng hay trừu tượng, siêu thực hay sắp đặt... Nhưng rồi mọi sự đâu vào đấy. Tất cả đều thuộc về bản ngã cùng quá trình sáng tạo, nhà thơ Hải Đường nhận ra: “Nghệ thuật siêu đẳng phải là sự bình dị, tự nhiên nhất, được đốt nóng từ trái tim đầy cảm xúc”.

Một đời làm báo

Rất yêu thơ và sáng tác từ khi còn là học sinh trường làng Vụ Bản (Bình Lục-Hà Nam). Mười bảy tuổi khoác ba lô lên đường chiến đấu nhưng Hải Đường khởi nghiệp báo chí. Là một chiến sĩ công binh thời chiến (nhập ngũ năm 1972), Hải Đường bắt đầu viết tin bài cho báo Công Binh và Quân đội nhân dân.

Gặp tôi có lần anh kể hồi được giải Nhì cuộc thi “Kỷ niệm sâu sắc trong đời bộ đội” năm 1978 là một cây đèn bão. Anh gửi về quê cho bố mẹ dùng. Cây đèn là kỷ niệm quý dù nhỏ bé nhưng nó chính là nguồn ánh sáng cho anh bước vững vàng trên con đường cầm bút. Mấy năm sau anh được điều động lên làm phóng viên chính thức của báo Công Binh (1980). 

Gặp tôi Hải Đường bồi hồi kể lại bước ngoặt đến khá sớm với anh, sau khi tốt nghiệp đại học báo chí (1983-1988), anh được cử về Tổng cục Chính trị. Ở đây Hải Đường chuyên viết bài cho các cán bộ lãnh đạo để trình bày trong các hội nghị.

Nói đây là bước ngoặt bởi lẽ anh phải luyện bút viết những bài chính luận có tính định hướng cho những hoạt động ở các đơn vị quân đội. Chính vì thế hai năm sau, khi Hải Đường chuyển sang báo Nhân dân (Ban Xây dựng Đảng- năm 1989), anh phát huy tối đa sở trường của mình.

Mặc dù là những vấn đề ngỡ như khô khan nhưng dưới sự rung động của tâm hồn thi sĩ văn phong chính luận của Hải Đường có sức truyền cảm tới bạn đọc.  Ta có thể tạm gọi đây là loại “Tùy bút chính trị” được mềm hóa bởi yếu tố văn học. Đó là sự liên tưởng hình ảnh hoặc văn học dân gian để soi tỏ những câu chuyện đã diễn ra. Tính định hướng vấn đề trở nên rõ ràng hơn, thấu đáo về tình cảm và ý thức của người đọc.

Con đường làm “quan báo” của Hải Đường cũng dần hé lộ từ đây. Sau khi được cử đi học lớp Chính trị cao cấp (1992-1994), Hải Đường trở về báo sau đó được cử làm Phó trưởng ban báo “Nhân dân cuối tuần” (1997).  Đây cũng là cái mốc quan trọng mà Hải Đường trở lại với ước mơ thi ca của mình. Hải Đường tập trung và đầy phấn khích trên con đường sáng tạo văn chương.

Liên tiếp chừng gần mươi năm Hải Đường cho ra đời ba tập thơ: “Miền phù sa” (NXB VH- 2002); “Mưa cỏ” (NXB HNV-2005) và “Mùa đi” (NXB HNV-2008). Đến năm 2009 Hải Đường được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam. 

Tuy vậy, đường quan lộ của anh vẫn tiếp tục, khi được đề bạt làm Trưởng ban Nhân dân cuối tuần, rồi vào ban Biên ủy phụ trách nội dung 6 ban của báo Nhân dân. Công việc ngập đầu nhưng Hải Đường vẫn đau đáu với những nỗi niềm thi ca. Anh sáng tác đều đặn và luôn có hướng tìm tòi đổi mới khuynh hướng sáng tác. Đặc biệt tài năng của anh phát lộ rõ rệt qua những tập thơ sau đó. Tâm tư Hải Đường vẫn còn vương vấn nỗi ám ảnh: “Câu thơ chỉ một dòng/ Sống lâu hơn nhiều trang tiểu sử”.

Đời thơ muôn dặm sóng

Đến nay, nhà thơ Hải Đường đã in 6 tập thơ. Có thể nói chừng bốn năm anh in một tập. Mới nhất là tập thơ “Lãng mạn 4.0” (NXB HNV-2019). Thi pháp trong thơ Hải Đường đã được định hình. Anh không chạy theo sự cầu kỳ trong tiến trình đổi mới mà hướng nội với độ hàm súc dồn nén.

Từ đây, những triết lý nhân sinh được hình thành. Ta có thể bắt gặp những ý tưởng bất ngờ trong các tập sách của Hải Đường. Hồn thơ lay động tự nhiên với những hình ảnh chân thực, không sáo ngữ, gợi cảm chắt lọc. Tứ thơ được xây dựng với nhịp điệu chậm chắc mang hơi thở thiền ngộ.

Đọc “Lãng mạn 4.0” chúng ta dễ hòa nhập vào không gian thiền định ấm áp qua những câu thơ hay như: “Cây hạnh phúc nắng trưa tròn bóng/ Lần tràng hạt nam mô vẫn một dáng ngồi” (Mười năm). Thơ thiền luôn dùng cho những dạng câu nghi vấn và phủ định. Đó là những khổ thơ kết dồn cho người đọc cùng suy ngẫm và khai thông tuệ giác tiềm ẩn trong mỗi con người. Nhà thơ luôn tự nhìn lại mình sau những bộn bề lo toan. Hải Đường viết: “Em nhắc ta/ Lúc chạy thi với bạn/ Cán đích không phải điều quan trọng/ Hãy tự hỏi ta có cần thắng bạn không?” (Đừng dẫm lên kiến).

Thơ của Hải Đường luôn xuất hiện với những câu thơ tìm được bạn đồng hành. Anh đã viết “Vạn hữu phù du-hạn hữu kiếp người” (Mười năm), và anh còn tự sự: “Ngược Tây Hồ tìm bạn/ Hoa đào nở sớm bung biêng/ Chuông chùa loang dài mây trắng/ Lời nguyền neo đậu cửa thiền” (Hà Nội sáng mùng một Tết). Hay trong bài “Đầu năm đi lễ chùa” người đọc cũng dễ tìm ra những điều phủ định thầm kín và ngộ được sự cảm thông hồn hậu: “Chen lấn là điều không thể/ Thôi về ngõ nhỏ nhà ta/ Phật ở trong lòng mình đấy/ -Nam mô a di đà…!”.

Những tác phẩm đã xuất bản của nhà thơ Hải Đường.
Những tác phẩm đã xuất bản của nhà thơ Hải Đường.

Thi pháp trong thơ Hải Đường ẩn chứa chất ngôn ngữ khơi gợi để người đọc đồng hành khi nhận thức đối tượng. Bài thơ trở nên sinh động và đọng lại những thi ảnh khó quên. Thơ như con người anh vậy, ung dung trầm tĩnh đôi khi còn tiêu diêu thanh thoát, hòa mình với vạn vật. “Bóng chim tăm cá” của Hải Đường mang tính đặc trưng cho nét tự tại mênh mang: “Bằn bặt bóng chim tăm cá/ Thềm trăng hun hút sương mờ/ Thôi đã cạn ngày băng giá/ Cánh chim chưa hẹn cành tơ”. Bài thơ đã đọng lại ở nét khắc họa đến ngẩn ngơ: “Ao thu như tấm kính/ Lặng nghe đáy nước sủi tăm/ Lão ngồi tóc râu im phắc/ Câu cá hay câu nỗi mình?”.

Tình cảm sâu đậm trong thơ của Hải Đường còn được bạn đọc cảm nhận sâu sắc ở đề tài người chiến sĩ quân đội mà anh đã từng trải nghiệm gần hai mươi năm. Đó là “Nhớ và quên”, “Người lính già bên quầy báo”, “Đối diện”, hay “Trong bóng tối”, “Giấc mơ chủ vườn”. “Ngoài vùng phủ sóng”… Hình ảnh chồng mờ tô đậm những ký ức sâu nặng trong đạn bom khói lửa.

Anh viết: “Giấc mơ bồng bềnh…/ Trời sắp bão/ Lão đầm đìa nhớ trận đánh vùng ven/ Đồng đội hy sinh máu nhuộm đất phèn/ Những ngôi mộ lá rào rào mưa đêm” (Giấc mơ chủ vườn). Hoặc có khi nhà thơ đã phải đối diện với ký ức của chính mình: “Người lính già bên quầy báo/ Ngày ngày dõi tìm thông tin mộ liệt sĩ/ Khát đám mây lành mong làm dịu đi/ Cuộc chiến phía sau cuộc chiến” (Người lính già bên quầy báo).

 Nhà thơ đã có những câu thơ thật ám ảnh khi tô đậm hình ảnh về chiến tranh: “Đêm thằng Hoạt hy sinh/ Ánh trăng như máu chảy” (Nhớ và quên). Đó cũng là sự cô đọng của thiền tự ẩn dụ. Do vậy thơ Hải Đường luôn hướng tới sự hàm súc và thể hiện một nhịp điệu trầm tĩnh.

Ngụ ngôn 

Hành trình làm báo của Hải Đường khá hanh thông thăng tiến với hàng chục giải báo chí cho đến khi về hưu (2016). Ngược lại cuộc sống gia đình riêng lại vất vả không ít trầm luân. Anh đã dành phần lớn cuộc đời mình để chăm sóc người vợ ốm đau bệnh tật. Vậy mà lúc nào anh cũng thể hiện một tâm thế ung dung tự tại, tính cách từ tốn và ấm áp. Những dằn vặt suy tư anh dồn cả vào thơ. Đó là những bài thơ đầy ắp ưu tư nhưng không hề phiền muộn. Đúng là tư chất thiền tự vô thường. Anh viết: “Đời thơ muôn dặm sóng/ Lòng thuyền rỗng không”.

Thiền đã đem lại sự dung dị phiêu diêu trong thơ Hải Đường. Tôi không khỏi bâng khuâng với những thi ảnh lạ lẫm khi anh thử hoán đổi và so sánh vạn vật. Hẳn đó là những lúc nhà thơ khám phá những hỗn mang trong cuộc sống: “Một chiều buồn/ Gốc và ngọn xin đổi chỗ cho nhau/ Sớm ngủ dậy cả thành phố bang hoàng/ Bình minh trên những ngọn cây không lá” (Ngụ ngôn).

Rồi lại khi ngụ ngôn hoang tưởng dồn tụ về những nét thanh tao nhất khi nhà thơ viết tặng vợ qua những vần thơ phật pháp vô vi: “Bây giờ chiều đã ngả. Mây tím thôi ồn ào. Thong thả ta thong thả/ Thuyền xưa trăng đậu vào/ Trăng vẫn xanh rười rượi/ Lời yêu thương năm nào” (Chiều tím). Hải Đường đã phần nào tiếp cận tới ngôn ngữ thiền “Vô ngôn” mở ra một không gian cảm xúc vô hạn. Đó cũng chính là cầu trường đồng nhập vô biên giữa tác giả và người đọc.

Vương Tâm

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.