Nhà thơ, dịch giả Tạ Minh Châu: Nghiệp văn đã chọn

Tôi thầm cảm ơn Tạ Minh Châu và nhờ có anh mà nhiều nhà thơ Việt Nam, độc giả thơ Việt Nam hiểu W. Szymborska một cách có hệ thống và sâu sắc hơn...

1.  Khi mới học lớp 5 Trường cấp 2 Thanh Sơn (Phú Thọ), cậu bé Tạ Minh Châu đã viết một mẩu chuyện rất cảm động, có văn, được thầy giáo chủ nhiệm lúc ấy đọc và khích lệ nhiều. Tuy mẩu chuyện này không xuất hiện trên báo, trên tạp chí, nhưng nó là một kỷ niệm mang dấu ấn thuở thiếu thời, ít nhiều bộc lộ năng khiếu ban đầu mà cho đến bây giờ, tuy đã xấp xỉ tuổi 70, Tạ Minh Châu vẫn không quên.

Năm lên lớp 8 (1965), Tạ Minh Châu đã có tác phẩm đầu tay đăng trên Báo Thiếu niên Tiền phong. Đến năm lớp 10 (1967), Tạ Minh Châu đoạt giải A cuộc thi thơ của tỉnh Phú Thọ do nhà thơ Bút Tre làm chánh chủ khảo. Cũng năm 1967, vì một phần do ở xa, một phần vì đang bận tập trung trong đội tuyển thi học sinh giỏi văn toàn miền Bắc nên Tạ Minh Châu đã bỏ lỡ cơ hội xuất bản một tập truyện viết về thiếu nhi qua Nhà xuất bản Kim Đồng, cho dù trước đó, nhà thơ Định Hải đã gọi anh về Hà Nội để gấp gáp “hoàn chỉnh bản thảo”. Anh tâm sự: “Bây giờ nghĩ lại, vẫn thấy tiếc. Đó là điều đã xảy ra và không bao giờ lặp lại”.

Rồi như thể văn chương đã chọn Tạ Minh Châu vậy. Sau khi tốt nghiệp lớp 10, với học lực xuất sắc, anh được chọn đi du học ở Ba Lan và trở thành sinh viên Tổng hợp văn Warsaw. Thời kỳ còn là sinh viên, anh đã chọn dịch một số tác phẩm thơ tiêu biểu của Việt Nam đăng trên Tạp chí văn học nước ngoài của Ba Lan, Tạp chí Văn nghệ của Krakow (cố đô của “đất nước đại bàng trắng”) và gần như đồng thời chọn dịch một số tác phẩm thơ tiêu biểu của Ba Lan đăng trên Tuần báo Văn nghệ.

Nhà thơ, dịch giả Tạ Minh Châu tại lễ ra mắt tuyển thơ Szymborska.
Nhà thơ, dịch giả Tạ Minh Châu tại lễ ra mắt tuyển thơ Szymborska.

Khoảng 1992, trong một lần gặp gỡ có thể nói là rất hữu duyên, Tạ Minh Châu được nhà thơ đàn anh, đồng hương Phạm Tiến Duật tạo cho một cú huých. Sau khi đọc mấy chục bài thơ của Tạ Minh Châu, Phạm Tiến Duật bảo: “Thơ rất được. Phải in đi, Châu ạ. Không in tức là bỏ phí đấy”. Thế là “được lời như cởi tấm lòng”, Tạ Minh Châu đã cho in tập thơ đầu tay mang tên “Đi ngược hoàng hôn” qua Nhà xuất bản Hội Nhà văn vào đầu năm 1994. Đến năm 1996, Tạ Minh Châu trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

“Đi ngược hoàng hôn” tuy mỏng (chỉ có 24 bài thơ ngắn) nhưng nó nặng ở tình người, tình đời và bộn bề cảm xúc. Sau nhiều năm đọc lại, tôi vẫn nhớ những câu: “Tôi đi tìm mình trong mênh mang cô đơn” trong “Không đề” và “Ngủ đi em/ Giấc ngủ bình yên/ Dẫu cuộc sống có bao điều ước lệ/ Hạnh phúc, khổ đau, chân trời, góc bể/ Chỉ rất thật là em và làn hơi thở nhẹ/ Cho thơ anh buông neo mỗi lúc đêm về” trong “Lời neo trong đêm”. Tôi nhớ hơn cả là “Khoảnh khắc” với sự tinh tế và sự run rẩy chất thi sĩ toát ra từ nó:

Mặt nước lặng im
Nhìn tôi bằng đôi mắt của tôi
Mỉm cười bằng nụ cười của tôi.

Nước viết hộ tôi những lời
Đã bao tháng năm hằn trên đầu bút
Nước hát hộ những cháy khát
Bài ca lặng im…

Nước ơi hãy ngừng đập con tim
Gió ơi hãy ngủ yên
Bởi nếu tất cả cựa mình
Tôi sẽ lại bao ngày không nghe tiếng hát
Và mực sẽ lại đọng khô đầu bút.

2. Trước khi ra mắt bạn đọc “Đi ngược hoàng hôn”, từ 1986 đến 1988, Tạ Minh Châu đã cho xuất bản nhiều tác phẩm văn học nổi tiếng của các nhà văn Ba Lan nổi tiếng được anh chuyển ngữ như I. Ivatxkievich, M. Oruon, Andreievski qua Nhà xuất bản Tác phẩm mới và Nhà xuất bản Kim Đồng. 

Sau này, từ 1994 đến 2016, anh lại cho xuất bản 2 tuyển thơ dịch của W. Szymborska và C. Milosz nữa. Riêng Tuyển thơ của W. Szymborska – Giải thưởng Nobel 1996 đã được Tạ Minh Châu chuyển ngữ rất kịp thời và được xuất bản cũng rất kịp thời qua Nhà xuất bản Hội Nhà văn.

Tôi đã đọc rất kỹ tập thơ này và nhận thấy: Ở đời, kẻ không thông minh cho lắm, lại không có tài, thường làm phức tạp những vấn đề vốn đơn giản. Còn người thông minh và có tài, thường làm đơn giản những vấn đề vốn phức tạp. Kẻ “làm phức tạp những vấn đề đơn giản” như được sinh ra để hù dọa, chia rẽ. Còn người “làm đơn giản những vấn đề phức tạp” lại như được sinh ra để chinh phục, tập hợp. Đó là hai loại “vũ khí” mà kẻ trí thường chọn để hành xử. Và W. Szymborska đã chọn thứ “vũ khí” thứ hai – “làm đơn giản những vấn đề vốn phức tạp”.

Tất nhiên, thơ Szymborska tuy giản dị, sâu sắc nhưng không hoàn toàn dễ hiểu và không dễ làm. Với bà, sự tối thượng của thơ không nằm trong câu, trong chữ, mà nằm trong ý, trong tứ. Hay nói một cách khác: Thơ Szymborska không dành cho những độc giả lười biếng, ít chịu đào sâu suy nghĩ, ít chịu tư duy.

W. Szymborska làm thơ không để đánh đố ai. Nhưng để “giải mã” một cách thấu đáo về thơ của bà cũng không phải là chuyện đơn giản. Nêu thế để thấy: Thơ W. Szymborska luôn đa tầng, đa nghĩa và luôn có chiều sâu của sự phát hiện. Mặt khác, thơ W. Szymborska cũng tràn đầy thông điệp. Mọi bài thơ mà bà viết ra đều nhắm đến một cái đích (hoặc nhiều cái đích) mang ý nghĩa nhân sinh, có tác dụng nâng vực, làm cho con người lớn dậy.

Tôi thầm cảm ơn Tạ Minh Châu và nhờ có anh mà nhiều nhà thơ Việt Nam, độc giả thơ Việt Nam hiểu W. Szymborska một cách có hệ thống và sâu sắc hơn.

Tạ Minh Châu cho biết: “Sau khi dịch thơ W. Szymborska, do có công truyền bá văn học Ba Lan, tôi đã được Bộ Văn hóa Ba Lan tặng huy chương Vì sự nghiệp văn hóa. Riêng về thơ, đã nhiều năm nay rồi, độc giả Ba Lan luôn đòi hỏi đã là thơ thì phải có thông điệp, có tính triết lý, có trách nhiệm xã hội, không thể có thứ thơ  buông xuôi, giải trí thuần túy. Từ lâu, các tác phẩm dịch văn học Ba Lan của tôi đều có chủ định và chủ ý. Tôi luôn chọn những tác phẩm tiêu biểu của các tác giả tiêu biểu để dịch. Tôi muốn độc giả Việt Nam hình dung ra bộ mặt, những nét chính yếu lẫn thế mạnh của nền văn học Ba Lan”.

Tạ Minh Châu cho biết thêm: “Cũng từ lâu rồi, mặc dù là một quốc gia nghèo của châu Âu nhưng Chính phủ Ba Lan vẫn rất quan tâm đến việc giới thiệu văn học Ba Lan ra nước ngoài. Ở Ba Lan có Viện Sách, mỗi năm được đầu tư đến vài triệu USD để có thêm điều kiện quan tâm các dịch giả trên toàn thế giới dịch văn học Ba Lan. Cứ 4 năm một lần, Viện Sách lại mời các dịch giả văn học Ba Lan từ mọi quốc gia về Ba Lan để quảng bá văn học Ba Lan”.

Khi tôi hỏi: “Anh nghĩ sao khi nhà thơ đương đại người Áo K. Lubomirski viết bài thơ “Ba Lan” chỉ gói tròn trong 14 từ như thế này: “Là nơi/ Người ta chôn cất các nhà thơ/ Bên cạnh các ông vua”? Lập tức, Tạ Minh Châu khẳng định: “Đúng như vậy đấy. Ở Ba Lan, các nhà thơ luôn có một vị trí đặc biệt trong đời sống tinh thần và họ được liệt hạng là những danh nhân văn hóa. Bởi vậy mà ở nhiều hầm mộ, việc chôn cất các nhà thơ được vinh danh bên cạnh các ông vua là điều dễ hiểu và dễ lý giải thôi”.

Có một kỷ niệm mà cho đến nay, Tạ Minh Châu còn cảm động mãi. Ông kể: “Khi rời Ba Lan khi mãn nhiệm kỳ Đại sứ đặc mệnh toàn quyền vào năm 2002, Tổng thống Cộng hòa Ba Lan lúc đó là ngài Kwasniewski có nói với tôi: Sau này, ngài có thể làm nhiều việc mang những ý nghĩa khác và có thể có những đóng góp lớn lao hơn ở cương vị mới, nhưng tôi mong ngài không bao giờ ngừng dịch văn học của đất nước chúng tôi”.

3. Tạ Minh Châu người gốc Việt Trì (Phú Thọ). Ông nguyên là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Cộng hòa Ba Lan và Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, nguyên Phó trưởng Ban Đối ngoại Trung ương. Ông có đến 50 năm gắn bó và 15 năm sống và làm việc ở Ba Lan.

Hồi ở Warsaw, ông là người đã có công gây dựng, góp phần đặt nền móng thành lập Hội người Việt Nam đoàn kết và hữu nghị tại Ba Lan. Đến năm 1999, Hội này đã cho ra mắt Tạp chí Quê hương, trong đó có dành một số trang giới thiệu các sáng tác văn học. Nhiều tác phẩm của Lâm Quang Mỹ, Lê Bá Thự, Nguyễn Văn Thái đã lần lượt xuất hiện trên Quê hương và sau này, cả 3 người này đều đã trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

Nhớ lại những ngày ở Ba Lan, Tạ Minh Châu nói: “Đó là một đất nước của những người đôn hậu và lòng bao dung, lòng yêu thương con người đã trở thành truyền thống trong trái tim Ba Lan. Việc Ba Lan thành lập nước năm 996, cùng với ngày công nhận Thiên chúa giáo là quốc giáo, có thể là nguyên cớ để cắt nghĩa những phẩm chất nhân từ, nhân ái đó. Phải chăng ở đời, học yêu thương vẫn là cần thiết và khó khăn hơn cả?”.

Còn thời gian ở Lào, Tạ Minh Châu đã viết khá nhiều thơ. Sau này, ông đã chọn in một tập thơ song ngữ Việt – Lào với cái tên vừa lạ vừa gợi, mang tên: “Buộc vào”.

Đặng Huy Giang

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.