Nhà thơ, dịch giả Lê Bá Thự: 25 năm một chặng đường…

25 năm của một đời nhà văn thì chưa phải là dài, nhưng  trong 25 năm, nhà văn Lê Bá Thự đã dịch và viết được một khối lượng tác phẩm khá đồ sộ.

Ông là người quê Thanh Hóa. Ngay từ khi còn ngồi ghế nhà trường, Lê Bá Thự đã là học sinh giỏi văn, từng được đi thi học sinh giỏi văn toàn miền Bắc. Tốt nghiệp cấp 3 năm 1963, rồi thi vào Khoa văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Niềm may mắn và như một định mệnh để ông gắn bó với nền văn học Ba Lan là ông được cử sang Ba Lan học Trường Đại học Bách khoa Warszawa.

Không được học khoa văn, mà theo sự phân công của cấp trên, ông học khoa trắc địa bản đồ. Về nước, ông lại được phân công về giảng dạy ở Trường Đại học Mỏ-Địa chất Hà Nội. Chỉ một thời gian ngắn, ông lại được chuyển sang công tác ở Bộ Ngoại giao. Rồi ông được trở lại đất nước Ba Lan, làm Bí thư thứ nhất Đại sứ quán Việt Nam tại Ba Lan, từ năm 1996 đến năm 2000.

Những ngày trở lại Ba Lan, khát vọng trở lại với niềm đam mê văn chương càng thêm cháy bỏng. Ông tự hào vì mình được sống và làm việc trên mảnh đất của rất nhiều nhạc sỹ, họa sỹ danh tiếng lẫy lừng quốc tế. Đặc biệt, một đất nước chưa đầy bốn mươi triệu dân số mà có tới bốn nhà văn, nhà thơ được giải Nobel về văn chương thì tình yêu văn học đất nước này càng thêm được khích lệ.

Một ý nghĩ cháy bỏng, ông quyết tâm làm người chuyển tải những áng văn chương bất hủ của bao nhà văn, nhà thơ Ba Lan sang tiếng Việt, để độc giả yêu văn chương ở Việt Nam có thêm điều kiện để tìm hiểu về nền văn học Ba Lan mà ông vô cùng yêu quý.

Nhà thơ, dịch giả Lê Bá Thự tặng bản dịch tiếng Việt tiểu thuyết “Xin cạch đàn ông” cho nữ tác giả Katarzyna Grochola.
Nhà thơ, dịch giả Lê Bá Thự tặng bản dịch tiếng Việt tiểu thuyết “Xin cạch đàn ông” cho nữ tác giả Katarzyna Grochola.

Ông từng tâm sự "Dịch văn học là con đường khả dĩ nhất cho niềm khát khao văn học của tôi. Bởi tôi thông thạo tiếng Ba Lan, lại từng là học sinh giỏi văn, đấy là lợi thế của tôi. Tuy nhiên, đó chỉ là duyên cớ chủ quan. Còn duyên cớ khách quan là tôi thực sự đam mê nền văn học Ba Lan, cả cổ điển cũng như đương đại.".

Lê Bá Thự có quan niệm riêng và ông tự nhủ mình phải cố gắng: "Nhà văn viết những gì mình biết, còn dịch giả thì phải biết tất cả những gì nhà văn viết". Với niềm say mê sôi sục, với phương pháp làm việc liên tục và tỉnh táo, trong vòng 25 năm, ông đã dịch được 26 tác phẩm văn học xuất sắc của văn học Ba Lan, từ tác phẩm cổ điển đến các phẩm đương đại.

Đó là, các tiểu thuyết: "Nàng thứ ba", của Henryk Sienkiewicz, NXB Văn học, 2004; "Pharaon", của Boleslaw Prus, NXB Lao động, 2004; "Hoang thai", của Dorota Terakowska, NXB Phụ nữ, 2006; "Xin cạch đàn ông", của Katarzyna Grochola, NXB Hội Nhà văn, 2007; "Quà của Chúa", của Dorota Terakowska, NXB Phụ nữ, 2009; "Các người khắc biết tay tôi", của Katarzyna Grochola, NXB Hội Nhà văn, 2010; "Dưới cánh thiên thần rượu", của Jerzy Pilch, NXB Hội Nhà văn, 2012; "Cô gái không là gì", của Tomek Tryzna, NXB Hội Nhà văn, 2013; "Hy vọng", của Katarzyna Michalak, NXB Hội Nhà văn, 2014; "Những khoái cảm khác", của Jerzy Pilch, NXB Phụ nữ, 2015…

Ngoài ra, ông còn dịch 6 tập truyện ngắn, 4 tập truyện cười và 3 tập sách cho thiếu nhi. Dịch giả Lê Bá Thự cho biết, cuốn  tiểu thuyết "Pharaon" viết về lịch sử Ai Cập cổ đại, với nhiều thuật ngữ, điển tích cần tra cứu kỹ càng, nên ông đã dịch ròng rã hai năm trời mới xong. Vì bản thân ông là người làm thơ, yêu thơ, nên với hai nhà thơ lớn của Ba Lan, từng được giải Nobel văn chương là Czeslaw Milosz (1911-2004), Wislawa Szymborska (1923-2012), ông đã dành tình cảm đặc biệt. Ngoài việc dịch thơ của họ, ông còn có nhiều bài viết về thân thế sự nghiệp và bình luận thơ của hai nhà thơ này.

Với sự đam mê không mệt mỏi, qua những trang sách dịch của mình, Lê Bá Thự xứng đáng là cây cầu văn hóa nối giữa Ba Lan và Việt Nam. Ngày 2 tháng 2 năm 2012, Tổng thống Cộng hòa Ba Lan đã ký quyết định tặng Huân chương Công trạng Cộng hòa Ba Lan cho nhà thơ, dịch giả Lê Bá Thự. Vinh dự cho ông, bản dịch tiểu thuyết "Hy vọng" của nữ nhà văn đương đại nổi tiếng Ba Lan Katarzyna Michalak đã được trao Giải thưởng văn học năm 2014 của Hội Nhà văn Hà Nội.

Một con người từng là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp, ngỡ tưởng những nghi lễ sang trọng và những điều kiện sống đầy đủ của châu Âu, dễ làm phai nhạt tình cảm với đời sống quê hương nghèo khó của mình. Vậy mà, ở con người ông vẫn giàu chất nhân văn, dễ cảm kích, xúc động mỗi khi nói về quê nhà. Có lẽ văn chương đã nuôi dưỡng tâm hồn con người luôn thẫm đẫm tình người.

 Tôi rất cảm kích khi đọc những trang văn ông viết về tuổi thơ lầm lũi bùn đất của mình: "Tôi sinh ra và lớn lên tại một làng quê nghèo xứ Thanh. Nhưng làng quê nghèo khó này lại có cái tên đẹp và nên thơ - làng Nguyệt Lãng…

Tuổi thơ tôi gắn bó máu thịt với ngôi làng quanh năm làm nghề nông này. Tôi biết làm ruộng từ hồi còn nhỏ. Năm 14 tuổi tôi đã đi bừa cùng mẹ tôi, mẹ một con bò, tôi một con bò, vì người nhỏ, thấp, tôi phải vác bừa lộn ngược khi đi đến ruộng và lúc ra về".

Ông chân tình kể: "Tôi gánh phân cực khỏe, lúc đầu vài chục cân, sau này tôi gánh đến 80 cân phân chuồng là bình thường. Nhất là hồi gánh phân cho hợp tác xã nông nghiệp, gánh càng khỏe thì càng được tính nhiều điểm. Những công việc như nhổ mạ, làm cỏ lúa, gánh lúa, đập lúa, tát nước, đào khoai… là những công việc quen thuộc đối với tôi hồi niên thiếu".

Ông hồn nhiên khoe tuổi thơ vất vả, lấm láp và vô cùng tươi sáng của mình: "So với các bạn cùng trang lứa, tôi có biệt tài kiếm cá. Chả thế mà bọn chúng gọi tôi là "con rái cá làng Nguyệt Lãng". Tôi kiếm cá ban ngày, tôi kiếm cá ban đêm, tôi kiếm cá khi trời mưa, tôi kiếm cá lúc trời nắng. Đến nỗi hồi đó người tôi đen sì như củ súng vì suốt ngày bêu nắng.

Bìa sách “Lê Bá Thự - 25 năm dịch và viết''.
Bìa sách “Lê Bá Thự - 25 năm dịch và viết''.

Năm tôi 14-15 tuổi, nhiều người trong làng lấy làm ngạc nhiên khi đích mục sở thị tôi ngồi câu cá ở bờ ao. Câu cá gì mà một tay cầm cần câu nâng lên nâng xuống, còn tay kia cầm cái roi, hay cần đập nước, bằng cành tre, dài, dẻo, quất xuống nước liên tục, đều đều, tạo nên tiếng kêu "tỏm tỏm", tạo bọt nước trắng xóa. Tôi đang ngồi câu cá hay tôi đang xua đuổi cá vậy?

Tôi đang ngồi câu cá rạo (còn gọi là cá ngạo, có nơi gọi là cá ngão, cá thiếu) đó. Cá rạo thân dài, lườn lưng dày và hơi gù, mình dẹt dần về phía cuối bụng, vảy trắng bạc. Miệng cá rạo rộng và sâu, môi mỏng và hơi vểnh lên phía trên. Món ăn ưa thích nhất của cá rạo là loài tép. Cho nên tôi thường móc vào lưỡi câu một con tép trắng.

Vào mùa xuân, khi các ấu trùng của tép nở thành tép con, cá ngạo đi từng đàn để săn tìm. Đây là thời điểm thích hợp nhất để câu cá rạo. Hễ thấy có nhiều bọt nước là cá rạo lao tới đớp bọt, gặp mồi tép thì đớp luôn và bị mắc câu. Cá rạo rất phàm ăn cho nên câu rất dễ. Thường chỉ vài giờ đồng hồ ngồi câu như vậy là tôi kiếm được chừng mười lăm hai mươi con cá rạo loại to, đủ một bữa rán nhắm rượu và kho đầy một nồi đất. Thịt cá rạo thơm ngon, nhất là cái lườn lưng dày của nó rất nhiều thịt. Bây giờ thỉnh thoảng tôi vẫn thèm cá rạo quê mà một thời rất thân thuộc đối với tôi. Nhưng buồn thay, món cá ngon lành này cũng chỉ còn là một kỷ niệm".

Thông thường, với con người ngoại giao, dưới cái vỏ nghi lễ lịch thiệp, sang trọng, người ta thường muốn khuất lấp cái thuở vất vả bùn đất của mình. Nhưng tâm hồn ông thấm đẫm cảm xúc của người làm văn chương. Chính vì vậy, đọc những đoạn văn ông viết về cái làng quê đồng chiêm của ông, tôi nhận thấy một tâm hồn nồng hậu đáng yêu: "Nước đồng làng tôi (ngày ấy) sạch đến nỗi, khi đang làm đồng trời nắng chang chang mà khát nước thì tôi chỉ cần ra chỗ nước trong lấy nón múc nước uống một cách ngon lành, không hề có chuyện đau bụng".

Hãy nghe ông kể về những ngày ở quê đi bắt ếch: "Man ếch, tức là dùng đuốc sáng để soi và bắt ếch - thuật ngữ của làng tôi, được coi là cái thú có phần "dã man" của tôi. Ngày trước làng tôi cực kỳ lắm ếch. Ếch nằm trong các hố nhỏ, trong các bụi rậm, các bờ ao…

Ngày hè lắm khi trời nắng dài ngày, khô hạn. Thường sau một đợt nắng nóng như vậy trời đổ mưa rào, nước chảy tràn trề, lênh láng, ngập làng xóm, ruộng vườn, trời trở nên mát mẻ, người, vật khỏe hẳn ra, thèm muốn nhiều hơn ngày thường, cây cối tốt tươi trông thấy. Buổi tối mát trời sau một trận mưa rào như vậy là một buổi tối lý tưởng đầy lãng mạn cho những đôi ếch đực ếch cái rủ nhau đi giao phối tại các vũng nước ngoài vườn, ngoài ruộng, chúng chẳng còn biết trời đất là gì.

Còn tôi chỉ việc soi đuốc, chộp lấy từng cặp cho vào giỏ một cách ngon lành. Bây giờ mường tượng lại, tôi thấy mình quá dã man, quá tàn ác, phá hoại cuộc tình đang đỉnh điểm của những đôi ếch vô tội và vô hại. Nhưng còn biết làm sao ở thời mà miếng ăn là câu thúc hằng ngày."

Thì ra sau cái vỏ nghiêm ngắn, lịch thiệp, xã giao của nghề ngoại giao, ở con người ông vẫn tươi rói hồn cốt người trai làng siêng năng, xốc vác và chân tình với xóm mạc. Người cầm bút ai cũng cần có một miền quê ruột thịt của mình. Nơi đó, như để tâm hồn trú ngụ. Và cũng từ nơi đó, tâm hồn được mở cánh rộng dài hòa nhập bốn phương. Tôi nghĩ, đó là cái nội lực tiềm ẩn, để ngòi bút của nhà thơ dịch giả Lê Bá Thự bay bổng trên trang sách của mình.

Tháng 12-2016

Vũ Từ Trang

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.