Nhà thơ Chế Lan Viên trong ký ức nhà văn Lê Hồng Thiện

Nhân kỷ niệm 105 năm ngày sinh nhà thơ lớn Chế Lan Viên (20/10/1920 - 20/10/2025), nhà văn Lê Hồng Thiện vừa ra mắt cuốn sách “Chế Lan Viên trong tôi” do NXB Tri thức ấn hành với ký ức như một mạch nguồn của văn chương tri ân.

Cuốn sách này không chỉ là một tiểu luận, một hồi ký cá nhân, mà là một hành trình tri ân và chiêm nghiệm về một người thầy, một người bạn lớn là nhà thơ Chế Lan Viên. Ở đó, văn phong Lê Hồng Thiện dung dị mà gần gũi với lời kể giàu nhân tình, cách dựng truyện mềm mại, gần như một cuộc trò chuyện giữa hai tâm hồn tri âm.

ành nhà tho ch- lan viên nam 40 tu-i.jpg -2
Nhà thơ Chế Lan Viên năm 40 tuổi.

Lê Hồng Thiện kể lại chuyện, năm 1962, khi còn là một cậu học sinh cấp ba mới tập tọe làm thơ, đã có may mắn gặp nhà thơ Chế Lan Viên khi ông 43 tuổi, đang về thực tế sáng tác tại tỉnh Hưng Yên, từng ở nhà tác giả gần một tháng.

Câu chuyện giữa nhà thơ lớn và cậu học sinh cấp ba sau này cũng trở thành nhà thơ, đã được kể lại trong cuốn sách dày 290 trang với nhiều câu chuyện nhỏ khá thú vị như “Nhà thơ Chế Lan Viên nhờ giảng hay lấy được vợ đẹp”; “Nhà thơ Chế Lan Viên nóng tính trong đời thường, khó tính trong đời thơ”; rồi “Xuân Diệu ngại… Chế Lan Viên”…

Và như tác giả cho biết, tập sách “Chế Lan Viên trong tôi” chủ yếu tập hợp các bài viết bình luận, giới thiệu thơ Chế Lan Viên và các bài sưu tầm giai thoại về Chế Lan Viên.

Cách kể chuyện giản dị, chân thành - giọng văn của ký ức

Trong cuốn sách này, nhà văn Lê Hồng Thiện không chọn lối kể chuyện cầu kỳ mà mở ra bằng những kỷ niệm giản dị như một buổi nói chuyện thơ, một câu hỏi tự đặt ra, một niềm yêu thơ khởi đầu từ thuở học trò.

Ngay từ đầu, người kể đã đặt mình trong vị thế người tri kỷ của nhà thơ, không tôn sùng, cũng không tô vẽ “Nếu các bạn hỏi tôi: các nhà thơ thời Thơ Mới 1930-1942 anh yêu nhà thơ nào nhất? Tôi chọn Chế Lan Viên”.

Câu chuyện tiến triển tự nhiên, như dòng hồi tưởng tự chảy. Nhà văn không “kể chuyện” theo nghĩa tiểu thuyết hóa, mà là truyền lại cảm xúc của một người được chứng kiến và được sống cùng thời với một thiên tài. Giọng văn gần gũi, dung dị, tự nhiên như lời kể của một người bạn cũ và chính điều đó tạo nên độ tin cậy và sức hút nhân văn cho tác phẩm.

Sự giản dị ấy là một chủ ý nghệ thuật. Nó giúp người đọc tiếp cận Chế Lan Viên không phải như một tượng đài, mà như một con người có đời sống, có cá tính, có những niềm vui, nỗi buồn và cả những “nóng tính”, “khó tính” rất thật. Chính cách kể không phô trương mà ấm áp này làm nên chất “người” trong văn phong Lê Hồng Thiện.

-nh t-p sách ch- lan viên trong tôi.jpg -0
Bìa cuốn sách “Chế Lan Viên trong tôi”.

Điểm dễ thấy của “Chế Lan Viên trong tôi” là nghệ thuật khắc họa con người thông qua những chi tiết nhỏ nhưng giàu sức gợi. Chế Lan Viên hiện lên không phải qua danh vị, mà qua những hành vi, cử chỉ rất người khi ông treo biển “Xin để khi khác, tôi rất bận” trên bàn làm việc, một chi tiết nhỏ nhưng biểu hiện cả tinh thần lao động nghệ thuật nghiêm cẩn, nỗi sợ lãng phí thời gian của người làm thơ suốt đời say việc. Nhà thơ say hoa hơn rượu, để “hoa thấm vào máu thịt” và “làm thơ về hoa còn thơm thảo hơn hoa” như một hình ảnh biểu tượng cho tâm hồn thi sĩ luôn tìm cái đẹp trong điều bình dị.

Ông dạy “phải học một ngoại ngữ, không thì có hai mắt mà chột một mắt”, một lời khuyên mộc mạc mà sâu sắc, thể hiện triết lý học tập và tầm nhìn văn hóa của một trí thức lớn. Chính nhờ lối viết quan sát từ đời thường, mà Lê Hồng Thiện tạo được một chân dung sống động, đa diện, vừa đáng kính vừa thân thuộc. Ông không ca ngợi Chế Lan Viên bằng mỹ từ, mà để nhân cách và tài năng của ông tự tỏa sáng qua từng chi tiết nhỏ.

Một trong những nét nổi bật của văn phong Lê Hồng Thiện là giọng kể đằm thắm, pha chút bùi ngùi của ký ức, nhưng không bi lụy. Những đoạn viết về làng quê, về “canh cá trâu mẹ thường hay nấu khế” hay “bài thơ Kết nạp Đảng trên quê mẹ”vừa dân dã vừa thiêng liêng, khiến người đọc cảm nhận được tình yêu sâu sắc của Chế Lan Viên dành cho mẹ, cho quê hương và cho đất nước. Ở đó, Lê Hồng Thiện như một người viết ký bằng trái tim của người con cùng quê với thi nhân, để lại những trang văn thấm đẫm nỗi hoài niệm và lòng trân trọng.

Giọng kể ấy nhiều lúc chuyển sang tự sự pha triết lý, khi ông bình về thái độ làm thơ của Chế Lan Viên: “Ông làm vườn cần mẫn để có hoa bằng thơ”, hay “Anh phải tạo ra mùa từ số ngày còn lại trên trái đất”. Đó không chỉ là lời tả, mà là sự suy tư về giá trị của lao động nghệ thuật, về thời gian và sự sống như một tầng nghĩa khiến truyện ký vượt ra ngoài kỷ niệm cá nhân, trở thành một áng văn suy tưởng về nhân cách nghệ sĩ.

Nghệ thuật dựng chân dung qua chi tiết đời thường

Khác với lối hồi ký thông thường, “Chế Lan Viên trong tôi” có cấu trúc tự nhiên, kết hợp giữa kể - tả - bình - hồi tưởng, khiến người đọc cảm thấy như được tham dự vào câu chuyện. Tác giả luôn đặt mình ở vị thế người trong cuộc, quan sát bằng cảm xúc hơn là lý trí, nhưng vẫn giữ được độ xác thực của tư liệu.

Ví dụ, khi kể lại thời gian Chế Lan Viên ở nhà mình tại xã Lam Sơn, Hưng Yên, ông ghi lại tỉ mỉ những cuộc họp hợp tác xã, những ghi chép của nhà thơ, những buổi dạo đê sông Hồng và những lời khuyên chân tình. Từng chi tiết được chắt lọc có chủ đích, không sa vào kể lể, mà góp phần tái hiện chân thực đời sống và tinh thần của thời kháng chiến và xây dựng đất nước.

Ở bình diện nghệ thuật, Lê Hồng Thiện thể hiện sự tiết chế của người viết ký hiện đại. Ông không đẩy cảm xúc lên cao trào, không dùng ngôn ngữ ước lệ hay khoa trương, mà chọn lối viết tự nhiên, có tiết tấu, có khoảng lặng. Những khoảng lặng đó khiến người đọc cảm nhận được chiều sâu tâm tưởng, sự suy tư lặng lẽ của người tri kỷ trước bóng dáng người đã khuất.

nhà tho lê h-ng thi-n.jpg -1
Nhà văn Lê Hồng Thiện.

Điểm nổi bật khác là cách Lê Hồng Thiện để thơ xen vào văn, làm cho truyện ký có nhịp điệu như một bài thơ dài. Ông trích thơ của Chế Lan Viên không chỉ để minh họa, mà như để tạo đối thoại giữa hai tiếng nói - người viết và người được viết. Khi nhắc đến câu thơ “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn”, đó là lời khởi đầu cho một chuỗi cảm xúc nối liền hai thế hệ thi sĩ.

Giọng văn của Lê Hồng Thiện vì thế mang tính liên văn bản, đan xen thơ và ký, đời và mộng, lý trí và cảm xúc. Như trong đoạn ông viết: “Chế Lan Viên tài năng do sự thông minh, tự học, tự đọc và học ở quần chúng... như con ong cần cù để làm nên hương thơm mật ngọt dâng hiến cho đời”. Hình ảnh “con ong làm mật” là biểu tượng của một tư duy thơ, được chuyển hóa tự nhiên vào văn xuôi, cho thấy cái nhìn thơ hóa về hiện thực. Tác phẩm của Lê Hồng Thiện, vì thế, mang tính giao thoa giữa văn xuôi ký và tinh thần thi ca, giống như một khúc hòa tấu giữa cảm xúc và trí tuệ.

Tầng sâu nhất của “Chế Lan Viên trong tôi” là tinh thần nhân văn tri ân và gìn giữ ký ức văn học. Lê Hồng Thiện viết không để tôn vinh bản thân, mà để lưu giữ bóng dáng một thế hệ, một thời đại văn chương. Ông gọi Chế Lan Viên là “cây đại thụ của khu rừng thơ Việt Nam” và tự hỏi “sự trống vắng ấy còn tồn tại bao lâu”, đó là nỗi tiếc thương xen lẫn chiêm nghiệm về sự hữu hạn của đời người và sự bất tử của nghệ thuật.

Trong giọng kể, ta nhận ra một ý thức lưu truyền ký ức văn học: viết để không quên, để thế hệ sau còn hiểu những người đã tạo nên nền thơ Việt Nam hiện đại. Vì vậy, truyện ký này không chỉ là hồi tưởng cá nhân, mà là một “ký ức tập thể”, là tiếng nói của lòng biết ơn và sự tiếp nối văn hóa.

Nhìn lại toàn bộ “Chế Lan Viên trong tôi”, có thể thấy văn phong và nghệ thuật viết truyện ký của Lê Hồng Thiện gói trọn trong ba chữ: chân - tình - nghệ. Ông viết bằng sự chân thành của người chứng kiến, bằng tình cảm của người tri âm, và bằng nghệ thuật của người biết tiết chế. Lối kể giản dị nhưng giàu nhạc điệu, kết cấu mềm mại nhưng chặt chẽ, chi tiết nhỏ mà gợi lớn và tất cả hòa quyện thành một phong cách văn ký hướng nội, cảm xúc hướng ngoại, tri thức hòa vào nhân cách.

Qua ngòi bút Lê Hồng Thiện, nhà thơ Chế Lan Viên không chỉ là một danh nhân văn học, mà là một con người bằng xương thịt, biết yêu, biết say, biết trăn trở và biết sống tận cùng cho thơ. Tác phẩm vì thế không chỉ là “trong tôi” của riêng tác giả, mà còn là “trong chúng ta”, những người đọc hôm nay, vẫn tiếp tục nghe vang vọng dư âm một thời, nơi văn và người hòa làm một, ký ức và hiện tại soi sáng lẫn nhau.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.