Nhà nghiên cứu...lập dị?

Tôi nghĩ về ông như vậy nên có lần vì tình thân quen nhiều năm mà đem thắc mắc hỏi ông. Tưởng chỉ là câu chuyện vui vẻ nhưng ông lại không bằng lòng mà lập tức thẳng thừng phản ứng: "Sao người ta cứ muốn tất cả phải giống nhau? Mỗi người rất cần có cho mình một lối sống, một cách sống hợp với sở thích, miễn sao không vi phạm đến pháp luật, đến đạo đức, đến cộng đồng". Nghe có lí nên tôi chỉ biết im lặng, dù trong lòng vẫn còn một chút gì đó băn khoăn.

Tôi muốn nói về ông Nguyễn Văn Hy, một người bạn vong niên mà tôi quen biết đến nay cũng đã gần bốn chục năm. Ngày đó ông là giảng viên, Phó Chủ nhiệm Khoa Quản lý Văn hóa - Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, được lãnh đạo Bộ điều động tham gia đoàn nghiên cứu đời sống văn hoá ở cơ sở. Thành phần đoàn còn thêm một vài người ở các đơn vị khác, trong đó có tôi, từ Cục Văn hóa quần chúng.

Không như nhiều nhà giáo và nhà nghiên cứu khác, ông Hy rất ít nói lí thuyết mà thường đề cập đến những vấn đề thực tế dù ông am tường và thường trực tiếp tham khảo sách báo lí luận ở nhiều nước bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga. Chính điều này khiến tôi rất ấn tượng về ông.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hy.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hy.  

Sau đợt nghiên cứu, chừng mấy tháng sau thấy ông Hy đem đến tặng tôi tập tài liệu về "Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở" khiến tôi bất ngờ vì thấy ông hoàn thành công trình quá nhanh. Đây là những lí luận được dựa trên cơ sở thực tiễn về một phong trào văn hoá đã được Bộ Văn hóa chỉ đạo triển khai rộng khắp trong cả nước, sau đó thành giáo trình khoa học được lãnh đạo Bộ và nhà trường thông qua, đưa vào giảng dạy tại Khoa Quản lí Văn hóa - Đại học Văn hóa Hà Nội và các trường văn hóa. Tôi càng thêm ấn tượng về ông.

Nhưng chúng tôi cũng ít gặp nhau vì ông thường xuyên phải lên lớp tại trường, rồi được mời đi giảng dạy, khi thì ở Đại học Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, lúc sang Đại học Văn hóa - Nghệ thuật Quân đội, rồi còn liên tục về các trường văn hóa địa phương. Ông là Chủ tịch Hội đồng khoa học của Khoa Quản lí Văn hóa, là Ủy viên Hội đồng khoa học của Trường Đại học Văn hóa Hà Nội. Hơn nữa ông còn là Ủy viên Hội đồng Khoa học, trực tiếp làm Trưởng ban Xã hội học của Viện Văn hóa Việt Nam. Tôi thường có thông tin về ông qua các hoạt động khoa học, qua học trò, nhà trường và qua thông tin từ Văn phòng Bộ.

Sở dĩ tôi nói ông là một nhà giáo lập dị là do nếp sinh hoạt cá nhân. Vợ đã mất, con cái công tác trong Huế nên chỉ mình ông sống tại căn nhà có từ mấy mươi năm trước, trong con ngõ nhỏ liền kề với trường, nối thông đường Đê La Thành và Giảng Võ. Khi đó căn hộ của ông không khác với những căn hộ chung quanh mà nhà trường phân cho công nhân viên chức, được chia đều mỗi hộ một căn nhà cấp 4. Nhưng dần dần khu nhà được thay đổi theo thời thế. Hầu hết các ngôi nhà đều lần lượt được lên tầng, giàu thì 5, 6 tầng, "nghèo" thì cũng phải 2, 3 tầng, rồi nội thất thay đổi, khang trang, thời thượng.

Ngõ nhỏ mà giờ chợ búa sầm uất. Chỉ duy nhất căn hộ của ông Hy là vẫn y nguyên như nửa thế kỉ trước, hoàn toàn gợi nhớ lại thời bao cấp khó khăn. Ngôi nhà ông Hy như lún sâu trong dãy nhà cao tầng bủa vây chung quanh. Vẫn mái ngói, tường vôi nhưng càng xập xệ hơn bởi suốt mấy chục năm qua hầu như không một lần được sửa chữa, sơn quết nên các mảng tường mốc meo, sạt lở, bong tróc nhiều chỗ. Vào bên trong còn tệ hại hơn. Ngoài chiếc bàn làm việc và chiếc tủ đựng sách báo, tài liệu, thêm chiếc bàn nước cùng mấy cái ghế tiếp khách, mỗi chiếc một kiểu như được nhặt lại từ ai đó bỏ đi, còn thì không có bất cứ một thứ gì khác giá trị.

Không dùng máy tính nên ông viết bút bi, xong đem ra thuê đánh máy vi tính. Nhà ông cũng không tủ lạnh, càng không điều hòa. Gặp thời tiết nóng 39, 40 độ thì cũng chỉ cái quạt bàn. Bạn bè đến nhà ông muốn đi vệ sinh, người khó tính đành phải "nhịn" phần vì trống trải, chẳng có cửa, lại vẫn hố xí cũ kĩ, ai bụng to rất khó ngồi. Đánh răng, rửa mặt, tắm táp, giặt giũ thì ông mở vòi cho nước chảy đầy vào mấy cái chậu nhựa ngay trong không gian nhỏ bé chung với nhà vệ sinh.

Không phải ông không có điều kiện thay đổi nếp sống mà là ông không muốn. Miếng đất nơi ông đang ở có giá tiền tỉ, nhiều người hỏi mua nhưng ông không bán. Vợ chồng người con trai làm ăn khá giả muốn đón ông vào để tiện chăm sóc, nhưng ông nói không. Cũng không phải chỉ mình tôi nói ông lập dị mà nhiều người cũng chung ý nghĩ. Người lạ thì ông im lặng nhưng người quen biết nói, thì ông phản ứng, có khi gay gắt.

Ông bảo: "Sướng khổ là quan niệm mỗi người. Chắc gì các ông nhà cao cửa rộng đã sướng hơn?". Với ông, được thoải mái sống và làm việc trong ngôi nhà của mình là ông mãn nguyện. Không phải ông AQ như có người xa gần bóng gió. Ông vẫn sống vui, sống khoẻ và nhất là làm việc tốt. Ngay cả khi đã nghỉ hưu thì ông vẫn giữ cho mình sự hăng say làm việc. Vẫn được trường này trường khác mời về giảng dạy. Vẫn liên tục có các công trình nghiên cứu khoa học, vẫn tham gia vào các đề tài khoa học, vẫn hướng dẫn khoa học cho các sinh viên. Sinh viên của ông giờ có người cương vị lãnh đạo các cơ quan văn hóa, các sở văn hóa địa phương. Nhiều người đã là thạc sĩ, là tiến sĩ nhưng khi nói về ông, trước sau họ vẫn nể trọng sự tự học, sức nghiên cứu, viết lách và tâm huyết với những nội dung được ông đề cập.

Chính tại căn hộ mà mọi người nghĩ là tồi tàn này là nơi hình thành nên những công trình nghiên cứu hết sức nhạy bén của ông về văn hóa cơ sở. Nhiều đóng góp khoa học của ông được đánh giá cao bởi nó luôn cập nhật, thiết thực, ví như đề án "Qui hoạch phát triển mạng lưới nhà văn hóa trên địa bàn Hà Nội" (đề tài nghiên cứu khoa học của UBND TP Hà Nội); "Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ở vùng sông nước đồng bằng sông Cửu Long" (đề tài khoa học cấp Bộ); "Phát triển văn hóa cộng đồng trong điều kiện nước ta hiện nay"… v.v.  Thậm chí nhiều công trình nghiên cứu còn mới mẻ mà chỉ nghe tên, người ta thấy như hoàn toàn khác hẳn con người và cuộc sống thường nhật của ông, như: "Tìm hiểu thêm về công nghiệp sáng tạo và công nghiệp văn hóa","Cần tái cấu trúc đề án xây dựng và phát triển văn hóa cộng đồng ở nước ta hiện nay", "Về việc hoạch định chính sách xây dựng nguồn nhân lực văn hóa thời hội nhập quốc tế hiện nay"…v v…

Được tiếp xúc với những công trình nghiên cứu của ông, tôi không khỏi khâm phục sức suy nghĩ của một nhà giáo, một nhà nghiên cứu văn hóa có xu hướng đúc kết lí luận hoàn toàn dựa trên thực tế đời sống từng vùng miền chứ không là những đề xuất dựa trên sách vở nặng lí thuyết. Dù những ngày này ông đã cao tuổi nhưng khi nghe ông trò chuyện, tâm sự về chuyên môn, nghiệp vụ, thấy ông như vẫn còn trẻ lắm, vẫn còn nhiều ý tưởng lắm. Và khi ấy thì mọi người như thôi hết băn khoăn về lối sống có vẻ như lạc hậu của ông. 

Những giáo trình, những công trình khoa học đã công bố của ông Nguyễn Văn Hy có thể nói là khá nhiều mà ngay tại căn hộ của ông những hôm tôi đến thăm đã được ông lấy tình thân đồng nghiệp nhiệt tình đem ra giới thiệu. Những nghiên cứu, tham luận, những bài giảng mới, cũ của ông được đóng cẩn thận thành từng tập, xếp từng chồng trên chiếc ghế dài khiến tôi vô cùng ngạc nhiên.

Cũng không chỉ ở sức làm việc, nhiều người được tiếp xúc với các công trình nghiên cứu khá toàn diện, sâu sắc của ông về văn hóa thường vẫn nghĩ, hẳn ông phải có một học hàm, học vị cao tương ứng. Nhưng hóa không phải. Ông trước sau vẫn chỉ có cho mình tấm văn bằng duy nhất là cử nhân văn hóa nên khi trò chuyện trước sinh viên hay đồng nghiệp, ông thường hài hước nhưng thành thật nói trước rằng: "Xin thưa các em (hoặc thưa các vị), tôi chỉ là một giảng viên bình thường, tôi không phải là Tiến (sĩ) hay lùi, tôi cũng không là Giáo (sư) hay mác gì đâu". Vậy nhưng lại có rất nhiều sinh viên từng học ông, sau này có người đã trở thành chánh, phó các đơn vị, hay tiến sĩ, thạc sĩ ở cơ quan này cơ quan khác.

Lại có học trò của ông bây giờ đang giữ trọng trách ở những trường đại học, ở những viện nghiên cứu… hiểu ông, biết hoàn cảnh ông nên vẫn luôn khuyên thầy gắng dành chút thời gian làm luận văn tiến sĩ, dù biết rằng Tiến - lùi hay Giáo - mác không mấy quan trọng gì với thầy, và thực lực học vấn của thầy hoàn toàn xứng đáng cho những danh vị ấy. Thậm chí họ nhiều lần nói thầy chỉ cần làm một vài công đoạn cho có thủ tục thôi. Ông biết thiện ý của học trò muốn ông khỏi thiệt thòi nhưng một lần nữa tính "lập dị" trong ông lại thắng, ông nói cảm ơn mà không theo. Với ông, đâu cứ phải có học vị là cái đích phải có theo trào lưu? Quan trọng là thực lực. Không có trình độ tương ứng mà mục đích chỉ nhằm đánh bóng tên tuổi, mưu danh kiếm lợi thì trong con mắt mọi người, những danh hiệu ấy liệu có đáng được tôn trọng?

Cho dù những ngày này, thầy giáo, nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Văn Hy đã vào tuổi 85 nhưng thấy ông vẫn giữ nguyên nếp sống lạc quan, giản dị mà người ta vẫn cho là lập dị có từ mấy chục năm nay, vẫn say sưa làm việc, nơi đâu cần nếu ông thấy phù hợp thường không bao giờ ông từ chối. Và ông vẫn sống trong ngôi nhà cấp bốn xập xệ, không tiện nghi, đi đâu vẫn cuốc bộ hoặc xe ôm, xe bus, vẫn lầm lũi cơm bụi, chè chén, trước sau vẫn chỉ là một ông giáo cử nhân bình thường, nhưng lại luôn nhận được sự trọng nể, yêu quí của đồng nghiệp và của học trò.

Tôi nghĩ, có lẽ những điều đó mới thật sự là phần thưởng giá trị, là niềm vui, niềm hạnh phúc lớn nhất với một người thầy, một nhà nghiên cứu.

Huy Thắng

Các tin khác

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...