Nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục: Hành trình giải mã năm thế kỷ văn chương

Sức làm việc, sức đọc, sức viết, khả năng nghiên cứu khoa học, sáng tạo nghệ thuật của nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục hơn ba mươi năm qua, với khối lượng công việc ông đã hoàn thành thật đáng khâm phục. Tuy đã bước vào tuổi quá thất thập ông vẫn tráng kiện, tràn đầy năng lượng và hơn hết là sự hấp dẫn của nhân cách bao dung, giàu tính nhân văn.

Di sản thơ ca của dân tộc ta từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX, là một thành tố quan trọng trong cấu trúc của hệ hình văn hóa Đại Việt (giai đoạn hậu kỳ).

Giới nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn ở nước ta thường thống nhất văn hóa Việt Nam đã diễn ra với ba hệ hình văn hóa cơ bản. Thứ nhất là hệ hình văn hóa Đông Sơn và tiếp theo là hệ hình văn hóa Đại Việt, và từ đầu thế kỷ XX, văn hóa Việt Nam được định danh là hệ hình văn hóa Việt Nam. Việc nghiên cứu văn hóa học được tiếp cận trên ba hình thái chủ đạo.

Trước hết là hình thái tiếp cận vĩ mô tổng quát, nhằm đánh giá, phân tích cấu trúc văn hóa Việt Nam được hình thành, phát triển như thế nào trong sự vận động của lịch sử dân tộc ta nói chung. Và hình thái vi mô cụ thể, nhằm khám phá, phân tích lí giải sâu sắc các thành tố văn hóa tương đối độc lập và những biểu hiện chức năng của văn hóa. Hình thái thứ ba là nghiên cứu văn hóa theo hướng phức hợp, xuyên văn hóa, liên văn hóa, nhằm chỉ ra mối quan hệ biện chứng tác động qua lại (giữa cấu trúc, chức năng và các hiện tượng văn hóa đa dạng cùng phát huy tác dụng) trong mối liên hệ phổ biến thống nhất của vật chất.

Trở lại với di sản thơ ca của ông cha ta từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX, từ mấy thế kỷ qua giới nghiên cứu văn học nước ta đã có nhiều cố gắng thám sát giải mã nội dung tư tưởng, hình thức nghệ thuật theo hai xu hướng: Xu hướng thứ nhất nghiên cứu theo mô hình nghiên cứu trung đại, chịu ảnh hưởng và chi phối của các phạm trù mỹ học trung đại mà cơ bản là tư tưởng triết học tam giáo (Nho, Phật, Lão) quy định và điều tiết hệ thức thẩm mỹ xã hội và chủ thể nghiên cứu. Xu hướng thứ hai nghiên cứu văn học (thơ ca) thế kỷ XV - XIX theo mô hình lý thuyết mác xít quy định, nặng về tư tưởng đấu tranh giai cấp nên thường phủ định các giá trị mỹ học trung đại (nhất là các phạm trù chỉ luân lý đạo đức).

untitled-5.jpg -0
Nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục.

Nhằm khắc phục những hạn chế của hai xu hướng nghiên cứu thơ ca trung đại vừa nêu trên, nhà nghiên cứu văn hóa, lý luận phê bình văn học Vũ Bình Lục đã tiến hành nghiên cứu “Giải mã kho báu văn chương Lý Trần” (1226 - 1400) và “Giải mã kho báu văn chương Việt Nam từ thế kỷ XV - XIX” theo mô hình nghiên cứu phức hợp, liên văn hóa, xuyên văn hóa.

Nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục đã tiến hành nghiên cứu trường hợp - Nguyễn Trãi; Cao Bá Quát, trong những chuyên luận, chuyên sâu, trước khi bước vào nghiên cứu hệ thống thơ ca Việt Nam từ thế kỷ XV - XIX. Và một số công trình nghiên cứu có liên quan chặt chẽ đến vấn đề thơ văn chữ Hán trên mười thế kỷ của dân tộc Việt Nam, tương ứng với thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của hệ hình văn hóa Đại Việt. Và bản chất của việc nghiên cứu giải mã kho báu văn chương mười thế kỷ (thế kỷ X - XIX) thực chất là nghiên cứu trên chất nền ngôn ngữ Hán - Nôm.

Xuất phát điểm của nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục vốn đã am hiểu ngôn ngữ, văn hóa Hán - Nôm. Mặt khác Vũ Bình Lục còn là người sáng tác thơ, viết văn xuôi truyện ngắn, bút ký, đa dạng về thể loại sáng tạo nghệ thuật. Dựa trên hai nền tảng vững chắc đó, quả thật hết sức thuận lợi cho việc nghiên cứu, lược dịch thơ ngôn ngữ Hán - Nôm sang ngôn ngữ tiếng Việt hiện đại.

Nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục bước vào giải mã kho báu văn chương Lý Trần và kho báu văn chương thế kỷ XV - XIX, quả thực là một thử thách mạo hiểm, quả cảm. Bởi vì trước đó đã có rất nhiều nhà nghiên cứu lừng danh triển khai nghiên cứu và có thành tựu nhất định. Tuy nhiên, với lợi thế của người đi sau đã kế thừa được những tinh hoa của người đi trước, và có những kiến giải độc lập sáng tạo, nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục đã thổi một luồng sinh khí mới trong sáng, tươi tắn cho thế giới nghệ thuật và tư tưởng nội dung của kho báu văn chương mười thế kỷ của ông cha chúng ta.

Trong công trình “Giải mã kho báu văn chương thế kỷ XV - XIX”, nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục đã tiến hành đọc đối chiếu so sánh mấy nghìn văn bản (Hán - Nôm) tài liệu trong nước và nước ngoài để điều tra, phân tích, tổng hợp, nhằm khắc phục điểm khuyết thiếu của các nhà nghiên cứu đi trước do công tác tài liệu hạn chế. Ngoài ra ông còn đọc hàng nghìn tài liệu văn bản tiếng Việt hiện đại để tổng quan tài liệu, viết lịch sử vấn đề nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu của Vũ Bình Lục, xét trên bình diện tổng quát là nghiên cứu phức hợp, xuyên văn hóa, liên văn hóa.

Trong công trình “Giải mã kho báu văn chương thế kỷ XV - XIX”, ông đã đặt kho báu văn chương - thơ ca của ông cha chúng ta trong bối cảnh văn hóa cụ thể của từng thời đại lịch sử, và trong sự phức hợp của vận động tương tác văn hóa giữa cơ cấu nội tại của thơ ca với các thành tố văn hóa khác diễn ra trong cùng một không gian, thời gian nhất định. Xét trên bình diện cụ thể, nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục đã tiến hành nghiên cứu tiếp cận văn bản học và tiểu sử học, trong đó nhấn mạnh trực diện vào văn bản tác phẩm thơ ca ngôn ngữ Hán - Nôm.

untitled-6.jpg -0
Bộ sách 5 quyển “Giải mã kho báu văn chương”.

Về tính chất nội dung nghiên cứu, nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục đã nỗ lực giải mã, phân tích cặn kẽ những giá trị biểu đạt của tư tưởng nghệ thuật Phương Đông. Và làm rõ những cặp phạm trù giá trị thẩm mỹ của khung mô hình thẩm mỹ trung đại còn phát huy tác dụng tích cực trong lý tưởng thẩm mỹ hiện đại.

Về công tác tư liệu trích dịch sử dụng trong công trình “Giả mã kho báu văn chương thế kỷ XV - XIX” chủ yếu được dẫn nguồn từ sách Hoàng Việt Thi Tuyển của Bùi Huy Bích và Toàn Việt Thi Lục của Lê Quý Đôn. Điểm đóng góp quan trọng và có ý tưởng mới của nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục, ở chỗ ông đã dịch lại toàn bộ các bài thơ, chủ yếu là thơ lục bát, song thất lục bát, đồng thời chú giải bình luận, phân tích văn bản tác phẩm theo nguyên lý phức hợp, xuyên văn hóa, liên văn hóa nhằm giải mã giá trị tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm trọn vẹn sâu sắc nhất.

Trong phần tổng quan nghiên cứu ông đã chỉ rõ từ thế kỷ XV, được mở đầu bằng chiến thắng của nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi và Nguyễn Trãi lãnh đạo. Cuộc kháng chiến chống giặc Minh xâm lược thắng lợi đã mở ra cho dân tộc ta một thời đại mới oai hùng vẻ vang trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, tạo tiền đề cho việc quản trị quốc gia Đại Việt phát triển. Chính tiền đề văn hóa chính trị đó đã làm nền tảng vững chắc cho các hoạt động khoa cử, văn chương nghệ thuật, công thương... phát triển. Nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục chỉ rõ: “Nội dung thơ thời kỳ này chủ yếu tụng ca thánh triều hưng thịnh và tài đức của nhà vua, nghệ thuật thơ đạt đến kinh điển nhưng hình thức quan phương, lời lẽ hoa mỹ mà gò bó”. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn có những đại biểu, các nhà nho khác trước tác đậm chất chữ tình bản thể, vừa hiện thực vừa điêu luyện.

Tiếp theo thế kỷ XVI, nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục dẫn luận thời đại lịch sử văn hóa trong bối cảnh phân tranh Lê - Mạc. Và thế kỷ XVII là quan hệ Lê - Trịnh; quan hệ phân tranh Trịnh - Nguyễn, dẫn đến khởi nghĩa Tây Sơn... và đầu thế kỷ XIX vua Gia Long thống nhất đất nước.

Tất cả những biến động lịch sử khắc nghiệt như vậy đã tác động rất sâu sắc đến tâm hồn các nhà thơ của dân tộc chúng ta. Hiện thực đi tìm bậc chân chúa, chúa sáng tôi hiền... thờ ai? giết ai? vấn đề nhân tình thế thái, vấn đề tâm thế sĩ phu/Nho sĩ trước trách nhiệm với giang sơn đất nước, với dân tộc, với nhân dân đều được đặt ra.

Trong cấu trúc tổng thể của công trình “Giải mã kho báu văn chương thế kỷ XV- XIX”, nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục đã giải mã thấu đáo khoa học, sâu sắc, khách quan, và giàu hàm lượng văn chương trong các đơn vị bài viết, được xem như các bài tiểu luận nghiên cứu khoa học mô phạm. Tuy nhiên, do có thế mạnh của một nhà thơ nên nội lực làm chủ ngôn ngữ và biểu đạt ngôn ngữ văn phong trong nghiên cứu vừa khoa học khách quan, lạnh lùng, nghiêm cẩn, lại vừa nhu nhuyễn, trữ tình bay bổng thấm đẫm chất văn chương, ngọt ngào bản sắc dân tộc, lại có khi chói sáng đanh thép khẩu khí sử thi, sử tính. Nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục đã công phu tâm huyết cho hành trình giải mã trọn vẹn năm thế kỷ sinh thành phát triển tỏa sáng di sản văn chương của ông cha chúng ta thuộc hệ hình văn hóa Đại Việt thật kỳ vĩ. Đáng khâm phục và kính trọng biết bao!

Sức làm việc, sức đọc, sức viết, khả năng nghiên cứu khoa học, sáng tạo nghệ thuật của nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục hơn ba mươi năm qua, với khối lượng công việc ông đã hoàn thành thật đáng khâm phục. Tuy đã bước vào tuổi quá thất thập ông vẫn tráng kiện, tràn đầy năng lượng và hơn hết là sự hấp dẫn của nhân cách bao dung, giàu tính nhân văn.

Lời tạm đóng, nhưng để cho tình cảm trân trọng của tôi mở ra với nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục và đến tất cả những người yên mến quý trọng nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục. Ông đã vượt qua thử thách để trau dồi nghị lực bản lĩnh nghiên cứu học thuật và ông đã thành công. Song thành công lớn nhất trong tư cách nhà nghiên cứu của Vũ Bình Lục là ông đã khơi dậy và giải mã được tinh thần văn hiến của ông cha chúng ta để trao truyền cho các thế hệ mai sau, vì một Việt Nam hùng cường thịnh vượng tươi đẹp, vì tương lai văn hóa của dân tộc Việt Nam.  

 9/5/2022

Nguyễn Văn Sơn

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.