Nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền: "Có giời nào đày tôi đâu!"

Nhà nghiên cứu âm nhạc Bùi Trọng Hiền là cái tên gắn với một số di sản của Việt Nam đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại như: cồng chiêng Tây Nguyên, ca trù. Cho đến nay, ông đã dành hơn 30 năm để theo đuổi việc nghiên cứu và đắm say cùng nhiều loại hình âm nhạc cổ.

Cuốn sách “Âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên” vừa ra đời là một công trình đầy tâm huyết, là kết quả của những ngày nắng gió lăn lộn ở Tây Nguyên và những đêm dài thao thức. Báo Văn nghệ Công an có cuộc trò chuyện với nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền.

- Thưa nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền, có thể nhận thấy anh đã thực sự rất hạnh phúc khi cuốn sách “Âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên” ra đời. Anh có thể chia sẻ về điều này?

screen shot 2022-04-08 at 21.55.18.jpg -0
Nhà nghiên cứu âm nhạc Bùi Trọng Hiền.

+ Sở dĩ tôi cảm thấy hạnh phúc vì mình đã làm hết sức mình để lưu lại những giá trị của cồng chiêng Tây Nguyên về mặt khoa học. Cho đến nay, nhìn những gì đang diễn ra, sự mai một về văn hóa tại Tây Nguyên, tôi cũng thấy mãn nguyện vì những vất vả, cố gắng và tâm huyết của tôi để lưu giữ cồng chiêng Tây Nguyên bằng các thông số khoa học trong cuốn sách này. Để sau này, con cháu mình nó biết là cha ông ta đã từng có những thứ quý giá như thế và nếu muốn phục dựng lại thì có thể căn cứ vào đó để làm được.

- Anh đã đến với công trình nghiên cứu để hoàn thiện hồ sơ trình UNESCO công nhận cồng chiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa phi vật thể như thế nào?

+ Đầu tiên, nó là công việc do cơ quan giao thôi. Lúc nhận được yêu cầu vào Tây Nguyên lấy tư liệu để làm hồ sơ trình UNESCO, khi đó vợ tôi còn đang mang thai tháng cuối cùng nên rất ngần ngại không muốn đi, nhưng cuối cùng vẫn lên đường. Trước khi tôi đi, thầy Tô Ngọc Thanh gọi tôi đến nhà và dặn 2 điều: “Thang âm cồng chiêng người ta chưa đo bao giờ thì cháu thử đo xem và các bản nhạc cồng chiêng cố gắng ký âm và phân tích nó”. Cụ chỉ nói thế thôi, còn làm như thế nào là tự mình phải mày mò để làm. Tôi vừa đi điền dã, vừa nghe, vừa học và phát hiện ra mô hình cố định của nhạc cồng chiêng. Từ đó đã hoàn thành được việc ký âm các bản nhạc ấy.

- Như anh từng chia sẻ, GS Trần Văn Khê - người khi đó được UNESCO giao trọng trách đánh giá, thẩm định bộ hồ sơ cồng chiêng Tây Nguyên đã rất ngạc nhiên với bộ tổng phổ các bản nhạc cồng chiêng Tây Nguyên đã được ký âm của anh?

+ Năm 2005, GS Trần Văn Khê về Hà Nội và gọi tôi đến khách sạn yêu cầu trình bày những nghiên cứu của mình. Đối với tôi, buổi gặp gỡ đó sẽ mãi đi vào lịch sử! Thầy liên tục đặt câu hỏi phản biện, còn trò cứ thế say sưa giải trình như thể mình đang đứng giữa buôn làng Tây Nguyên. Tôi cảm thấy hạnh phúc vỡ òa khi có thể chia sẻ mọi điều về cồng chiêng Tây Nguyên với một người thầy già và ông nhanh chóng hiểu được những nghiên cứu mới mẻ đó của tôi. Khi nghe tôi trình bày kỹ thuật thu thanh của riêng mình để tách âm mô hình tiết tấu từng chiêng cồng thành viên như thế nào, ông rất xúc động khen tôi sáng tạo trong tác nghiệp, thích ứng với điều kiện của Việt Nam. Ông còn nhận xét cách làm của tôi giống hệt 1 nhà dân tộc nhạc học nổi tiếng người Pháp nghiên cứu dân ca 5 bè người Pygmy châu Phi.

- Thời điểm năm 2004 anh vào Tây Nguyên điền dã và nghiên cứu về cồng chiêng Tây Nguyên, không gian diễn xướng cồng chiêng Tây Nguyên có còn đậm nét không hay đã mai một đi nhiều? Hiện trạng bây giờ ra sao?

+ Lúc đó, không gian biểu diễn cồng chiêng đã bị mai một nhiều rồi, có nơi còn phải mang ra bãi đất trống ven đường cái biểu diễn vì không còn nhà rông, không còn các lễ hội cổ truyền. Bởi lẽ có nhiều nơi đồng bào thay đổi tín ngưỡng, theo đạo Tin lành, đạo Thiên chúa nên có ít cơ hội biểu diễn, có nơi còn mất hẳn. Nhưng cũng có nơi còn giữ được khá nguyên vẹn, như một số làng dân tộc Ba Na, Gia Rai, Xê Đăng ở phía Bắc Trường Sơn. Còn một số nơi thì phải chấp nhận thực tế thôi. Tháng 4/2021, tôi có dịp trở lại Tây Nguyên, trở lại ngôi làng mình từng gắn bó và có nhiều kỷ niệm thì không còn gặp một nghệ nhân nào nữa. Hỏi ra mới biết, một số nghệ nhân già đã mất, số còn lại đều phải đi làm ăn mưu sinh ở rất xa. Nhìn thấy sự tan tác, tan vỡ, biến dạng và mai một đó, tôi cũng chẳng biết nói thế nào nữa. Chỉ là rất xót xa! Sau khi cồng chiêng thành di sản, người dân và các buôn làng có ý thức giữ gìn cồng chiêng, nhưng lại không có người để chơi nó vì đội ngũ kế cận không phải nơi nào cũng có.

screen shot 2022-04-08 at 21.55.23.jpg -0
Nhà nghiên cứu âm nhạc Bùi Trọng Hiền (hàng đầu) chụp ảnh lưu niệm với đội cồng chiêng Bahnar làng Hơ Hra, Koong Lơng Khơng, Kbang, Gia Lai.

- Tham dự “Hội thảo về thực trạng công tác quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” tổ chức vào tháng 4/2021 tại Kon Tum, anh thấy hội thảo có đưa ra giải pháp nào cho vấn đề này không?

+ Hội thảo nào cũng giống nhau hết thôi: phản ánh thực trạng và đưa ra giải pháp nhưng cuối cùng... chả để làm gì. Ai cũng nói một công thức là “phải truyền dạy”, “phải phát huy”... nhưng áp dụng vào thực tế thì không được. Mọi thứ vẫn thế, thậm chí còn xấu đi khi người dân không còn dùng các bài cồng chiêng trong các tín ngưỡng, sinh hoạt của họ. Sự duy trì của các đội chiêng có tính chất như các “đội văn nghệ” mà một số địa phương đang làm thì sẽ không bền. Với cách làm chỉ có tính chất “động viên”, “khuyến khích tinh thần”, thì không thể có hiệu quả lâu dài được, mà phải bảo tồn theo mô hình tập trung của phương Tây. Có nghĩa là người dân phải được hưởng lương tối thiểu để các buôn làng giữ gìn toàn vẹn không gian nghi thức có cồng chiêng như cha ông họ từng làm.

- Suốt mấy chục năm theo đuổi con đường nghiên cứu âm nhạc cổ đầy khó khăn gian khổ mà nhiều người ví như “đâm đầu vào đá”, sắp tới anh có khởi động dự án nào không?

+ Có nhiều chứ! Tôi vẫn còn nhiều việc đang dang dở như công trình nghiên cứu đờn ca tài tử mới hoàn thành việc nghiên cứu cơ bản mà chưa chắp bút. Đây chính là công trình lớn nhất của tôi. Tôi vẫn cảm thấy mình còn “nợ nần” rất nhiều với âm nhạc cổ truyền như cải lương, chèo, tuồng, ca trù... Nhưng sau dự án “Hiệu chỉnh khuôn thước âm luật và bài bản tại Câu lạc bộ Ca trù Hải Phòng” mất rất nhiều công sức, tiêu tốn năng lượng đến kiệt sức, tôi cảm thấy mình cũng cần một “quãng nghỉ”.

- Có vẻ như anh đã dành nhiều thời gian nhất cho việc nghiên cứu ca trù?

+ Cho đến nay là bước sang năm thứ 8. Bởi vì có lẽ đây là thể loại âm nhạc chuyên nghiệp phức tạp nhất, hóc hiểm nhất của người Việt. Thực ra, từ năm 2005 khi làm hồ sơ ca trù tôi đã có ý định nghiên cứu ca trù, nhưng phải đến sau Liên hoan ca trù năm 2014, tôi mới quyết tâm “cơm nắm muối vừng” đi nghiên cứu một cách nghiêm túc, bài bản, công phu để hiểu rõ được những âm luật của ca trù. Quá trình học hỏi, tiếp cận với các nghệ nhân nhà nghề cuối cùng như cụ Nguyễn Phú Đẹ, Nguyễn Thị Chúc, Phó Thị Kim Đức cho tôi nhiều tư liệu và những bài học quý giá!

- Được biết, trong cuộc đời làm nghiên cứu âm nhạc của mình, anh đã nhận được sự chỉ giáo của 2 người thầy lớn, đó là PGS.TS Vũ Nhật Thăng và GS.TS Tô Ngọc Thanh. Tình cảm đặc biệt nhất mà hai người thầy lớn đã dành cho anh là gì?

+ Đối với tôi, đó thực sự là 2 người thầy vĩ đại và cũng là may mắn, hạnh phúc lớn trong cuộc đời tôi khi được các thầy luôn coi tôi như một đồng nghiệp. Thầy Vũ Nhật Thăng là người trang bị và rèn luyện cho tôi về kỹ năng phân tích âm nhạc học, còn thầy Tô Ngọc Thanh trang bị cho tôi những kiến thức về âm nhạc dân tộc học thông qua điền dã. Sau này, 2 dòng kiến thức được trộn vào làm một khi tôi bắt tay vào các công trình nghiên cứu. Thầy Vũ Nhật Thăng không hề giấu giếm mọi người về việc quý mến tôi, ông không bao giờ sợ trò giỏi hơn mình mà luôn giáo dục tôi theo kiểu kích thích học trò đi xa, đi xa hơn nữa. Ngoài ra, cả 2 ông thầy đối với tôi không chỉ là người thầy mà còn như một người cha, người chú, người bạn vong niên và tôi có thể chia sẻ, tranh cãi với các sư phụ về mọi thứ mà không bao giờ có khoảng cách giữa thầy và trò.

- Tôi cứ có cảm giác anh đang ôm đồm làm quá nhiều việc? Có người còn nói rằng, Bùi Trọng Hiền như một kiểu người bị... giời đày?

+ Không! Tôi thích thì tôi làm thôi, vì có ai trả tiền cho mình đâu! Tôi tự chọn như thế và cảm thấy hạnh phúc khi được làm việc mà. Làm gì có giời nào đày tôi đâu!

- Xin cảm ơn nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền!

Nguyệt Hà (thực hiện)

Các tin khác

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.