Nhà Lớn Long Sơn - nơi cái sống và cái chết giao hòa

Long Sơn là xã đảo đặc biệt: trước thuộc TP Vũng Tàu, nay được sáp nhập về TP Hồ Chí Minh, và cũng là xã duy nhất ở đây không phải sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp xã. Nằm tách biệt với đất liền bởi sông Dinh và sông Chà Và, Long Sơn vẫn giữ được vẻ nguyên sơ, mộc mạc của một vùng quê ven biển với núi Nứa, rừng ngập mặn, làng chài, cùng quần thể Nhà Lớn nổi bật trên nền mái ngói rêu phong.

Đây là không gian văn hóa - tín ngưỡng độc đáo, đồng thời là điểm đến thu hút khách thập phương.

Người Long Sơn hiếu khách

Điều gây ấn tượng đầu tiên với khách phương xa khi đặt chân đến Long Sơn không chỉ là cảnh quan mộc mạc của núi Nứa, sông Gò Găng hay mái ngói rêu phong của Nhà Lớn, mà chính là tấm lòng hiếu khách của người dân nơi đây. Khách đến thăm, dù trong ngày hội lớn hay ngày thường, đều được đón tiếp bằng sự chân tình và giản dị.

Nhà Lớn - Long Sơn: Nơi cái sống và cái chết giao hòa -0
Các văn nghệ sĩ chụp ảnh lưu niệm cùng cư dân Nhà Lớn Long Sơn. Ảnh: Hồng Long.

Người Long Sơn không bày biện mâm cao cỗ đầy, mà thường mời những món ăn dân dã: cá kho, rau vườn, chén mắm nêm thơm nồng. Chính sự mộc mạc ấy lại khiến người thưởng thức thấy ấm lòng, bởi nó chan chứa tình nghĩa hơn bất kỳ sơn hào hải vị nào. Trong giao tiếp, người Long Sơn thường nhỏ nhẹ, chậm rãi, nhưng coi trọng chữ tín và giữ lời hứa. Với họ, khách quý là bạn bè, là người nhà.

Nhiều văn nghệ sĩ từng đến đây đều có chung cảm nhận: chỉ một lần ghé thăm đã thấy mình như thành một thành viên của cộng đồng, cùng chia sẻ công việc, bữa cơm, niềm vui. Và khi chia tay, chúng tôi còn được bà con tặng bánh tét và "mứt chuối khô xào gừng" - món đặc sản Long Sơn - mang về như một lời gửi gắm tình thân.

Sự hiếu khách ấy bắt nguồn từ chính đạo sống mà Ông Trần (Nhà Lớn Long Sơn còn gọi là Đền thờ Ông Trần) để lại: "Nhân - Lễ - Nghĩa - Trí - Tín". Hiếu khách không phải để cầu danh, mà là biểu hiện tự nhiên của tình người, của triết lý sống coi trọng nghĩa đồng bào. Nhờ vậy, mỗi chuyến ghé thăm Nhà Lớn Long Sơn không chỉ là tham quan, mà còn là một kỷ niệm kết nối bền lâu, để người với người xích lại gần nhau trong tin cậy và thương yêu.

Cái sống - giản dị và nhân nghĩa

Nguồn cội lưu dân: Người dân Long Sơn ngày nay phần lớn là con cháu của những lưu dân người Việt (Kinh) từ các tỉnh miền Tây, theo chân Ông Trần (vốn gốc Hà Tiên, Kiên Giang) đến khai phá vùng đất này vào khoảng năm 1900. Họ là những người cùng chung hoàn cảnh, khát vọng tìm một chốn an cư để lập nghiệp, thoát khỏi cảnh nghèo khó và hỗn loạn nơi quê cũ.

Trung tâm đời sống là Nhà Lớn, nơi vừa thờ Khổng Tử, vừa làm trường học, vừa là nơi hội họp và phân xử việc chung. Ở đây, người ta sống theo Đạo Ông Trần - một đạo làm người, dạy con người vỏn vẹn chỉ năm chữ: Nhân - Lễ - Nghĩa - Trí - Tín. Cái đạo ấy không giáo điều mà thấm ngay vào từng sinh hoạt hằng ngày:

- Trong ăn uống: Bữa cơm thanh đạm, nhiều rau củ, cá biển; ít rượu thịt, không ăn nhậu linh đình. Thức ăn thường là sản vật tự trồng trọt, đánh bắt được.

- Trong cưới hỏi: Lễ cưới giản đơn, chỉ tổ chức vào ngày mồng 1 hoặc 16 âm lịch, không phô trương, không cỗ bàn linh đình. Trọng tâm là lễ thành hôn tại Nhà Lớn, nơi cộng đồng chứng kiến và chúc phúc.

- Trong trang phục: Đàn ông áo bà ba đen, tóc búi củ hành; phụ nữ áo bà ba trắng hoặc đen, đầu vấn khăn. Trang phục thống nhất và khiêm nhường, xóa nhòa mọi sự phân biệt giàu nghèo.

- Trong giao tiếp: Lời nói là cam kết, trọng chữ tín. Sự lừa lọc, gian dối bị xem là điều nhục nhã nhất. Mọi tranh chấp đều được đưa ra Hội đồng Kỳ lão tại Nhà Lớn để phân xử công bằng.

Cộng đồng Long Sơn đặt tính tập thể lên hàng đầu. Tinh thần "nhất gia hữu sự, bá gia cùng lo" (một nhà có việc, trăm nhà cùng lo) được thực hành triệt để. Khi ai đó khó khăn, người khác sẵn sàng góp sức, góp thóc. Trẻ em được học chữ Nho và chữ Quốc ngữ ngay tại ngôi trường trong Nhà Lớn. Người lớn lao động mưu sinh bằng nghề thủ công, đánh bắt, làm muối, nhưng đời sống tinh thần lại dồi dào bởi niềm tin chung và những lễ hội cộng đồng.

Nhìn cách người Long Sơn sống, ta thấy sự thanh đạm nhưng không nghèo nàn; giản dị nhưng không khắc khổ. Họ chọn sống ít đi để lòng nhẹ nhiều hơn, để đời sống cộng đồng được hòa hợp.

Cái chết - bình đẳng và nhân văn

Nếu cái sống của người Long Sơn là giản dị, thì cái chết của họ lại càng đặc biệt. Tục "đồng quan đồng quách" (chung quan tài, chung áo quan) ở đây đã làm ngỡ ngàng biết bao khách thập phương.

Khi một người qua đời, cộng đồng đưa chiếc quan tài chung (gọi là "lồng liệt") bằng tre đan, sơn đỏ từ Nhà Lớn về. Người mất được nhập liệm và quàn trong quan tài ấy để cử hành tang lễ theo chủ trương "4 không": không kèn trống, không tụng kinh, không khóc than ồn ào, không phúng điếu. Nhưng đến lúc an táng, thi thể chỉ được bọc trong ba lớp vải liệm (trắng, chiếu, đỏ) rồi đưa xuống huyệt, không chôn cùng quan tài. Chiếc quan tài đỏ lại được rửa sạch sẽ và trở về Nhà Lớn, chờ cho một kiếp người khác.

Tục lệ này mang ý nghĩa sâu xa:

- Bình đẳng tuyệt đối: Trước cái chết, mọi người đều như nhau, không phân biệt giàu nghèo, chức tước hay thường dân. Ngay cả ngôi mộ cũng không có bia tên, để không ai có thể phô trương danh tính của mình hay gia đình sau khi chết.

- Giảm gánh nặng cho người sống: Không phải tốn kém làm quan tài, không để gia đình phải vay mượn hay phô trương vì sĩ diện. Tang lễ trở thành nghi thức chung của cộng đồng, nhẹ nhàng và thanh thản.

- Bài học về lẽ vô thường: Quan tài chỉ là phương tiện tạm thời; cái còn lại là nhân nghĩa và đạo hạnh mà người đó để lại cho đời. Cái chết được đón nhận một cách tự nhiên, như một lẽ thường tình của cuộc sống.

Nhà Lớn - Long Sơn: Nơi cái sống và cái chết giao hòa -1
Chiếc quan tài chung (gọi là "lồng liệt") bằng tre đan, sơn đỏ ở Nhà Lớn Long Sơn. Ảnh: Đỗ Thành Nhân.

Đặt tục lệ này cạnh những đám tang ở nhiều vùng quê khác, sự khác biệt càng rõ. Ở nơi khác, đám tang đôi khi là "sân khấu cuối cùng" để gia đình phô trương, thậm chí có khi còn mang màu sắc "kinh doanh". Ở Long Sơn, ngược lại, cái chết nhẹ nhàng, giản dị. Người chết ra đi an nhiên, người sống tiễn đưa trong thanh thản.

Có thể nói, cái chết ở Long Sơn chính là sự trở về: về với đất, về với cộng đồng, về với đạo lý bình đẳng muôn đời.

Nơi cái sống và cái chết giao hòa

Đi trong Nhà Lớn, tôi chợt nhận ra: ở đây, cái sống và cái chết không tách biệt. Người sống dạy nhau sống hiền hòa, tiết chế, coi trọng nghĩa tình. Người chết nhắc nhở bằng chính tục lệ tang ma: đừng phô trương, đừng bám víu, hãy để lại điều tử tế cho đời.

Vào những ngày giỗ Ông Trần (20/2 âm lịch) hay Tết Trùng Cửu (9/9 âm lịch), hàng ngàn người về Nhà Lớn. Giữa sân lộ thiên, dưới bóng núi Nứa, hương khói tỏa lên, tiếng trống vang vọng. Tôi hình dung cảnh bao thế hệ đã từng ngồi san sát nơi đây, chung một niềm tin, chung một đạo sống. Đó chính là sợi dây nối giữa cái sống đang tiếp diễn và cái chết đã đi qua - hai cực nhưng hòa làm một trong một nhịp điệu chung của cộng đồng.

Lời nhắn nhủ cho hôm nay.

Trong một xã hội ngày nay, khi nhiều giá trị bị cuốn trôi bởi thói phô trương hình thức và thực dụng thì bài học từ Nhà Lớn Long Sơn thật đáng để suy ngẫm. Người Long Sơn nhắc ta rằng: Sống không cần nhiều, chỉ cần tử tế, chết không cần phô trương, chỉ cần thanh thản.

Có lẽ, sức sống bền lâu của cộng đồng Long Sơn chính là ở chỗ họ đã tìm thấy sự hài hòa giữa cái sống và cái chết. Và chính sự hài hòa ấy làm cho Nhà Lớn Long Sơn không chỉ là một di tích, mà còn là một "bản kinh sống" về triết lý nhân sinh của người Việt nơi cửa biển phương Nam.

Nguyên Hùng

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.