Nhà giáo duy nhất nhận bằng danh dự: Giải thưởng Krupxcaia về hoạt động chống mù chữ

Đó là cụ Vương Kiêm Toàn (1902 - 1990) sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân ở làng Hương Ngải - Thạch Thất, ngoại thành Hà Nội - địa phương có truyền thống hiếu học và khoa bảng: “Kẻ Ngái ông nghè nhiều như lá tre”.

Thuở nhỏ, cụ học chữ quốc ngữ các thầy dạy trong làng như Thầy đồ Hai - Nguyễn Hữu Khanh (1875 - 1946), Thầy giáo Thoát - Nguyễn Tử Siêu (1887 - 1965). Lớn lên, cụ làm nhân viên bưu điện để mưu sinh, lòng nuôi dưỡng tinh thần yêu nước thương dân.

chân dung c%3f vuong kiêm toàn.jpg -1
Chân dung cụ Vương Kiêm Toàn.

Năm 1938, Hội Truyền bá quốc ngữ được chính thức thành lập do cụ Nguyễn Văn Tố ở Trường Viễn Đông bác cổ làm hội trưởng Hội Trí Tri - một hiệp hội dân lập với chủ trương quảng bá tân học gồm các đề tài khoa học như vệ sinh, phong tục, cùng các kiến thức mới lạ đến trí thức Việt Nam từ năm 1892 đến 1945; “Trí Tri" là biết tường tận, chỉ sự học hỏi dựa vào khoa học.

Cụ Vương Kiêm Toàn làm việc trong “ban dạy học” của Hội. Sau ba năm, cụ trở thành trưởng ban, sau cụ làm Phó hội trưởng Hội Truyền bá quốc ngữ (TBQN). Cho đến hết năm 1944, qua 7 năm hoạt động, hội đã xóa mù cho bẩy vạn người lao động, cung cấp nhiều kinh nghiệm về tổ chức và chuyên môn trong việc chống nạn thất học ở Việt Nam. Thành tích chung đó có sự đóng góp đáng kể của cụ Vương Kiêm Toàn.

Cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 bùng nổ, hăng hái tham gia, cùng anh em trong Hội thành lập Ủy ban Cách mạng, cụ được bầu làm Chủ tịch ủy ban xã. Tại trụ sở ủy ban, Ban tổ chức Lễ Tuyên ngôn độc lập đã được thành lập.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, dự Lễ Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cụ đứng ở hàng đầu của đoàn giáo viên hội TBQN, hô vang khẩu hiệu cách mạng hoan nghênh Chính phủ lâm thời do Bác Hồ làm Chủ tịch.

Nghe đồng chí Võ Nguyên Giáp thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Diễn văn về chính sách đối nội và đối ngoại của Chính phủ, cụ rất tâm đắc những câu: “Một dân tộc dốt sẽ là một dân tộc yếu. Trong thời hạn rất ngắn, Chính phủ sẽ ban hành lệnh bắt buộc học chữ quốc ngữ, chống nạn mù chữ đến triệt để. Vấn đề vô cùng quan trọng ấy chúng ta chẳng chờ đến lúc sinh hoạt trở nên bình thường mới giải quyết, ngay trong hoàn cảnh eo hẹp này chúng ta quyết tiến hành…”.

Cụ Vương Kiêm Toàn rất phấn khởi, tự chuẩn bị sẵn sàng cho chủ trương diệt giặc dốt của cách mạng. Ngày 8/9/1945, Chính phủ ban hành ba sắc lệnh đặt việc diệt dốt thành quốc sách cần làm cấp bách:

- Sắc lệnh 17 “đặt ra một Bình dân học vụ trong toàn cõi Việt Nam”

- Sắc lệnh 19 “thiết lập trong toàn cõi những lớp học bình dân buổi tối”

- Sắc lệnh 20 “Việc học chữ quốc ngữ là bắt buộc và không mất tiền cho tất cả mọi người”.

Sau đó, Nha Bình dân học vụ (BDHV) được thành lập, cụ Vương Kiêm Toàn làm trưởng phòng giáo khoa. Cụ cùng anh em biên soạn in ấn các sách: Vần quốc ngữ, sách tập đọc lớp sơ cấp bình dân; thành lập “Tủ sách dân chúng”, biên soạn những sách phổ thông phục vụ nhiệm vụ cách mạng và đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân như: “Việt Nam độc lập”, “Thế nào là Dân chủ cộng hòa”, “Quân chủ và Dân chủ”; các sách về kiến thức Sử Địa, về Khoa học, về Vệ sinh… Một số quyển được viết bằng văn vần, chữ in to có minh họa, người vừa thoát mù dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ. Có được 34 quyển sách với 2,5 triệu bản quả là chuyện phi thường thời bấy giờ. Cụ Vương Kiêm Toàn đóng góp rất tích cực vào thành tích đó.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ 12/1946, đất nước, chia thành các chiến khu để tiện chỉ đạo. Cụ Vương Kiêm Toàn được bổ nhiệm làm Liên khu trưởng BDHV Liên khu 10 gồm các tỉnh: Vĩnh Yên, Phú Thọ, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu và phía Bắc tỉnh Hòa Bình. Cụ truyền lửa hiếu học đến mọi người. Phong trào BDHV từng phát triển mạnh vùng đồng bằng và đô thị, có bước tiến mới về vùng trung du và miền núi.

Tháng 7 năm 1948, cụ Vương Kiêm Toàn được bổ nhiệm làm Tổng thanh tra BDHV. Cụ đã làm việc rất sát sao, phát hiện ra các vấn đề về tổ chức và mối quan hệ giữa các ty ở các tỉnh, vấn đề về chuyên môn giảng dạy… báo cáo với Trung ương có biện pháp giải quyết kịp thời.

Năm 1949, ông Nguyễn Công Mỹ - em ruột nhà văn Nguyễn Công Hoan, anh trai của ông Nguyễn Công Miều, tức nguyên Bí thư Trung ương Đảng Lê Văn Lương - Tổng giám đốc Nha BDHV hy sinh trên đường đi công tác, cụ Vương Kiêm Toàn được Chính phủ cử làm Tổng giám đốc Nha BDHV thay thế. Đảm nhiệm chức vụ này đến năm 1959, cụ được đi học Trường Chính trị cao cấp rồi chuyển sang làm Trưởng ban Thanh tra Bộ Giáo dục tới năm 1964 nghỉ hưu.

Thời gian cụ làm Tổng giám đốc Nha BDHV, ngành học đã phát triển mạnh mẽ về tổ chức và lý luận. Đặc biệt cụ đã chỉ đạo tổ chức hai chiến dịch năm 1949 -1950: Đẩy mạnh xóa mù chữ ở các vùng tự do, kết quả có bốn tỉnh: Hà Tĩnh, Thái Bình, Hà Nam và Ninh Bình đã thanh toán nạn mù chữ, cả nước thêm 3 triệu người biết chữ.

Với thành tích đó, cụ được Hồ Chủ tịch tặng Bằng khen “Có công lớn trong việc xóa mù chữ cho dân” kèm theo 2.000 đồng tiền thưởng. Cụ đã dùng số tiền này xuất bản cuốn "Vần Quốc ngữ" bằng tiếng Thái và dùng trong chiến dịch 1956 - 1958 thanh toán nạn mù chữ trong 21 trên miền Bắc mới giải phóng.

Kết thúc chiến dịch, Ban lãnh đạo thanh toán nạn mù chữ - cụ Tôn Đức Thắng - Phó Chủ tịch nước làm trưởng ban, cụ Vương Kiêm Toàn làm Phó ban thường trực. Thời gian này, các lớp Bổ túc văn hóa, các trường phổ thông lao động cấp 1-2,Bổ túc công nông cấp 2 - 3 phát triển mạnh, góp phần bồi dưỡng đào tạo cán bộ các cấp, các ngành để xây dựng đất nước. Năm 1959, Nha BDHV được tặng Huân chương Lao động,cụ Vương Kiêm Toàn được tặng Huân chương kháng chiến Hạng Nhất.

%3fnh b%3fng danh d%3f t%3fng c%3f vuong kiêm toàn.jpg -0
Bằng danh dự tặng cụ Vương Kiêm Toàn.

Tuy hưu trí nhưng cách mạng cần, cụ Vương Kiêm Toàn tham gia lãnh đạo Bổ túc văn hóa thành phố Hà Nội, biên soạn cuốn sách Hội Truyền bá quốc ngữ và phong trào diệt giặc dốt của nhân dân ta trước Cách mạng Tháng 8 và cuốn "Việt Nam chống nạn thất học". Đây là những tài liệu quý về tình hình kinh nghiệm hoạt động xóa mù chữ của Việt Nam. Năm 1978 cụ được Nhà nước tặng Huân chương lao động Hạng Nhất.

Vinh dự lớn đến với cụ là năm 1983, cụ được Tổ chức UNESCO của Liên hiệp quốc tặng Bằng danh dự giải thưởng Krupxcaia về hoạt động chống mù chữ (trao thưởng tại Pháp; trên thế giới, hai người được tặng là cụ và một nhà giáo dục ở châu Phi). Năm 1985, cụ được Nhà nước tặng Huân chương Độc lập Hạng Ba. Năm 1988, cụ được phong tặng Nhà giáo Nhân dân (NGND) đợt đầu tiên. Năm 1990, cụ mất do tuổi cao sức yếu, thọ 88 tuổi. Tang lễ cụ, nhiều lãnh đạo cao cấp đến viếng rất trọng thể.

Sinh thời, cụ Vương Kiêm Toàn rất chăm lo đến việc dạy dỗ thế hệ sau. Cụ và cụ bà Nguyễn Thị Chung (1908 - 1988) có bảy người con (3 trai và 4 gái), phần nhiều là những nhà giáo thành đạt. Con trai cả là ông Vương Mạnh Thái (1936), vợ là bà Nguyễn Thị Đảm (1940) đều là những nhà giáo trung học. Ông Thái đã noi theo gương bố nên năm 1953, mới 17 tuổi đã đi dạy học tại vùng núi Thanh Hóa, sau học lên và chuyến về dạy Toán cấp 2, làm Phó phòng giáo dục Hà Đông, làm Hiệu trưởng Trường THCS Đoàn kết đến khi nghỉ hưu (1989).

Con gái thứ hai cụ là bà Vương Thị Hiếu (1934), Viện trưởng một viện ở Bộ Nông nghiệp. Con gái thứ tư là bà Vương Thị Hanh (1937), Tiến sĩ Tâm lý học, nguyên Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội, nguyên Vụ phó Vụ Tổ chức cán bộ của Bộ Giáo dục, nguyên Phó chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam.

Con trai thứ năm Vương Quốc Tường (1939), nguyên là Cục phó Cục Bảo vệ thực vật. Con trai út Vương Quốc Cường (1941), Tiến sĩ Toán học, nguyên giảng viên cao cấp Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Cháu trai đích tôn Vương Tiến Dũng (1963), Tiến sĩ Khoa học lĩnh vực Chế tạo máy. Cháu gái Vương Thúy Quỳnh (1968) giáo viên Trường THPT Lê Quý Đôn, Hà Đông. Chắt nội đích Vương Quốc Nhật (1994), Tiến sĩ Sinh học ngành Công nghệ gen.

Cụ Vương Kiêm Toàn là một tấm gương nhà giáo mẫu mực, được phong tặng danh hiệu cao quý Nhà giáo Nhân dân đợt đầu tiên (Bộ trưởng Bộ Giáo dục Phạm Minh Hạc trao cụ Bằng chứng nhận NGND năm 1988). Nhưng khi tra cứu trên mạng “Những Nhà giáo Nhân dân tiêu biểu nhất” chưa có tên Cụ. Thiết nghĩ những cống hiến và việc làm hết mình vì sự nghiệp giáo dục, nâng cao dân trí của nhà giáo Vương Kiêm Toàn cần được ghi nhận và lan tỏa hơn nữa.

Nguyễn Thị Thiện

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.