Nhà cải tiến Tạ Thâm: Tài năng, sự cương trực và cái giá phải trả

Nói đến Tạ Thâm, có lẽ trong giới âm nhạc không ai không biết bởi ông đã cải tiến được 44 loại nhạc cụ cổ truyền trong gần 40 năm lao động cần cù. Những nhạc cụ này được người sử dụng rất ưa chuộng vì đã tạo thêm "đất" để họ thỏa sức sáng tạo khi biểu diễn. 

Năm 1987, tại cuộc thi "Những công trình cải tiến đàn dân tộc" do Bộ Văn hóa - Thông tin khi ấy tổ chức, Tạ Thâm tham gia 5 công trình thì tất cả đều đoạt giải cao với 3 giải A, 2 giải B trong tổng số 10 giải thưởng của cả cuộc thi. Kết quả rực rỡ này đã không phụ tấm lòng và công sức của nhà cải tiến nhạc cụ tài năng đã vượt qua gần như cả một đời thầm lặng, đơn độc trong cơ cực, cay đắng để lao động sáng tạo không biết mệt mỏi.

Thành quả cải tiến nhạc cụ dân tộc gắn với tên tuổi Tạ Thâm thì nhiều người đã rõ. Nhưng cuộc đời đầy sóng gió, bi kịch của ông thì không mấy người biết.

Tài năng, sự cương trực và cái giá phải trả

Tạ Thâm sinh năm 1929, quê gốc Thái Bình. Trong kháng chiến chống Pháp, ông tham gia vào đội Thanh niên xung phong mở đường cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Hòa bình lập lại (1954), do có năng khiếu âm nhạc và chơi được một số nhạc cụ phổ thông, ông được điều về Đoàn Văn công Thanh niên xung phong. Ít lâu sau, được đi học bổ túc âm nhạc ở trường Âm nhạc Việt Nam (tiền thân của Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam bây giờ).

Ở trường này, Tạ Thâm học thêm nhị và vi-ô-lông. Thấy Thái Thị Liên đánh pi-a-nô, chơi các bản nhạc đặc sắc của thế giới với kỹ thuật diễn tấu rất phong phú, trong khi nghệ sỹ Việt Nam kéo nhị quanh đi quẩn lại chỉ "con cò bay lả bay la…" với mấy nốt quá đơn giản, ông thấy tủi và nghĩ: Sở dĩ hai đàn pi-a-nô và vi-ô-lông hoàn chỉnh được như ngày nay cũng phải trải qua một quá trình cải tiến của người nước ngoài. Vậy không lẽ nhạc cụ dân tộc của Việt Nam chỉ nghèo nàn vậy sao?

Người ta cải tiến được, tại sao mình không? Ý nghĩ ấy cứ thôi thúc Tạ Thâm suốt chặng đường ông trở về Tây Bắc. Chàng trai trẻ Thái Bình vừa được trang bị kiến thức âm nhạc tại một trường chính quy, đang phơi phới lạc quan lại bắt gặp trên đường những cô gái Cống Khao xinh đẹp vừa đi vừa đánh đàn Hưn Mạy bên các chàng trai H'Mông thổi khèn thật dìu dặt, lãng mạn đã thôi thúc chàng tìm đến nhiều nhạc cụ khác của các dân tộc thiểu số như tính tẩu, pí poặt, pí đôi, tăng bẳng, tăng bu, khau cút…

Nhà cải tiến Tạ Thâm.
Nhà cải tiến Tạ Thâm.

Năm 1957, Tạ Thâm chính thức đề đạt lên Bộ Văn hóa ý định cải tiến 54 nhạc cụ dân tộc. Một chàng trai mới 28 tuổi, lại chưa ai biết đến mà dám đề nghị lên Trung ương đòi cải tiến những 54 nhạc cụ dân tộc. Ai cũng cười nhạo báng, cho rằng anh chàng này "hâm". Vì vậy nên ông phải tiến hành công việc một cách giấu giếm chẳng khác gì làm việc gian dối, phi pháp.

Năm 1959, Tạ Thâm trở về Trường Âm nhạc học sáng tác trung cấp khóa 4 năm (chưa có đại học). Học xong, ông được điều về làm việc ở Đoàn Văn công khu tự trị Tây Bắc. Tuy đi học nhưng ông vẫn không sao nhãng việc cải tiến nhạc cụ dân tộc. Vừa được trang bị thêm nhiều kiến thức âm nhạc quý báu, vừa thấy nước bạn cũng chẳng có gì ghê gớm về cải tiến nhạc cụ sau khi được sang Trung Quốc, nghe các nghệ sỹ nước này đánh đàn dân tộc của họ đã được cải tiến, ông càng thêm thôi thúc, quyết tâm tiếp tục thực hiện việc đang theo đuổi. Đúng lúc này, ông được điều sang phụ trách Khoa Âm nhạc ở Trường Văn hóa Nghệ thuật Tây Bắc mới thành lập và làm việc tại đây cho tới lúc nghỉ hưu.

Tạ Thâm hy vọng giảng dạy ở trường sẽ cho mình nhiều điều kiện để thực hiện hoài bão. Nhưng việc cải tiến nhạc cụ cần nhiều tiền để mua nguyên vật liệu, thuê thợ mộc. Ông không nhận được bất cứ sự ủng hộ nào. Gia cảnh lại quá nghèo, tưởng như không thể vượt qua. Nhưng Tạ Thâm không nhụt chí. Ông bán hết mọi thứ trong nhà có thể bán, đi mót lúa, làm bất cứ việc gì có người thuê mướn và ra sông Đà bắt cá bán lấy tiền. Mấy lần suýt bị chết đuối.

Vốn bản tính ngay thẳng, ăn to nói lớn, lại không được khéo léo trong cách ứng xử, Tạ Thâm chẳng những không được người hiệu trưởng ủng hộ mà còn gây khó dễ, cản trở công việc. Người này đã gọi ông là "cu-lắc" và cho rằng ông chỉ thích làm giàu cá nhân. Ông ta còn gạch tên Tạ Thâm khỏi danh sách đối tượng kết nạp Đảng. Quan hệ giữa ông và "sếp" mỗi ngày một xấu thêm. Cứ khi ông không đến trường là lập tức bị cắt lương. Vợ ông lúc đó làm thủ quỹ của trường, là người hiền hậu, đối tượng kết nạp Đảng nhưng cũng bị người hiệu trưởng nói thẳng: "Chị có người chồng bất trị như anh Thâm thì có vào rồi cũng sẽ ra thôi nên chúng tôi không thể kết nạp chị được".

Gia cảnh Tạ Thâm càng lúc càng gieo neo. Ông bán hết mọi thứ trong nhà. Có đồng tiền nào dồn hết vào việc cải tiến nhạc cụ. Người vợ hiền thục, tảo tần rất thương chồng nhưng dĩ nhiên là không thể hiểu hết được lý tưởng chồng mình đang theo đuổi, chỉ thấy cảnh nhà quá bi đát, túng thiếu nên tuy không đòi ly dị nhưng đã quyết định đưa con về quê sống với lời nói quá tội nghiệp: "Tôi về quê sống những ngày cuối cùng để khi chết thì chết ở quê hương bản quán, vì sống thế này thì không thể kéo dài được lâu". Tạ Thâm ráng nuốt nước mắt, chịu đựng. Nhưng ông nghĩ chừng nào còn sống, còn thực hiện bằng được ý định, không thể vì bất cứ lý do nào mà bỏ cuộc.

Là người có tính khí ngay thẳng, cứ thấy điều gì không phải là nói "toạc móng heo" nên quan hệ giữa Tạ Thâm và người hiệu trưởng ngày càng căng thẳng. Ở trường, cứ có ai uất ức điều gì là lại tìm đến ông và ông không nề hà gì để bênh vực họ khiến người hiệu trưởng rất tức tối dẫn đến một hành vi quá khích mà suốt đời Tạ Thâm không thể quên.

Đó là sáng mùng 1 Tết năm 1973, tự nhiên hiệu trưởng cho đứa con gái sang chúc Tết ông và hẹn buổi chiều ông sang chúc Tết lại ông ta. Nhưng Tạ Thâm linh cảm thấy có chuyện bất thường nên đã "cảnh giác", không sang. Thế là đến 22 h hôm đó, ông ta đến nhà Tạ Thâm. Vừa ngồi xuống ghế đã nói với chủ nhà bằng giọng rất hằn học: "Tôi đã chủ động cho con tôi sang chúc Tết ông, hẹn chiều ông sang tôi. Nhưng ông đi qua mà không thèm vào. Ông khinh tôi quá đấy - Rồi hất hàm hỏi - Thế nào? Hồi này ông còn cải tiến nhạc cụ nữa hay thôi?". Thay vì trả lời, chủ nhà chỉ tay lên bàn thờ có treo dòng chữ: "Tất cả vì nền nhạc cụ truyền thống Việt Nam" và ở dưới là khẩu hiệu: "Bảo thủ là kẻ thù của khoa học".

Người hiệu trưởng tái mặt, bỗng rút từ trong túi ra khẩu súng lục đen ngòm chĩa thẳng vào mặt Tạ Thâm, dõng dạc tuyên bố: "Tôi đến đây có nhiệm vụ: Một là bắn ông. Hai là để ông bắn tôi".

Với mối quan hệ rất xấu giữa hai người lúc đó và thái độ của vị khách không mời, Tạ Thâm nghĩ mình hoàn toàn có thể bị cảnh cáo nên đã nhanh trí tìm cách cướp được khẩu súng từ tay đối thủ. Sau đó, ông nộp cho Bí thư Đảng ủy nhà trường. Một viên đạn đã được lên nòng, nghĩa là đối tượng không chỉ dọa. Sau đó vì Tạ Thâm không đề nghị truy tố hình sự nên người hiệu trưởng kia chỉ bị Bộ Văn hóa kỷ luật cảnh cáo.

Nhà báo bị đe dọa

Những năm 1987-1988, tôi làm việc ở Báo Văn hóa - Nghệ thuật (Bộ Văn hóa - Thông tin). Được tiếp xúc với Tạ Thâm và chứng kiến ông lên nhận 5 giải thưởng tại cuộc thi cải tiến nhạc cụ (như đã nói), tôi có ý muốn tìm hiểu con người độc đáo này (từ vẻ bề ngoài lập dị đến tài năng cải tiến nhạc cụ và cả diễn tấu của ông). Đúng lúc này, báo tôi nhận được nhiều đơn thư của quần chúng ở Trường Văn hóa Nghệ thuật Tây Bắc - nơi Tạ Thâm công tác - tố cáo những bê bối, tiêu cực của lãnh đạo trường này.

Đồng chí Tổng Biên tập đã giao cho tôi lên trường tìm hiểu sự thật để viết bài phản ánh rõ thực, hư. Tôi hăm hở bắt tay ngay vào công việc. Trường đóng ở Chăm Mát, cách thị xã Hòa Bình mấy kilomet về phía Tây Bắc. Lúc này người hiệu trưởng cũ đã được thay thế bằng hiệu trưởng mới nhưng quần chúng ở đây cho rằng còn tệ hơn cả người tiền nhiệm. Tôi quyết định không đến ăn ở nhà khách của trường theo lời mời của hiệu trưởng mà tự lo việc này để bảo đảm tính khách quan trong việc nhìn nhận vấn đề và viết bài.

Ngay từ đầu, việc này đã khiến lãnh đạo nhà trường phải "cảnh giác" với tôi. Thế là sau đó, tôi nhận được rất nhiều lời mua chuộc, phỉnh nịnh rồi gợi ý nhiều quyền lợi mà bất cứ ai đi công tác cũng dễ thích thú. Tôi đề nghị vị hiệu trưởng cứ để tôi chủ động tìm hiểu qua nhiều nguồn (quần chúng, các tổ chức đoàn thể, nhân dân nơi trường đóng). Khi cần tôi sẽ xin làm việc với lãnh đạo.

Mua chuộc tôi không được, họ phát ngán. Rồi tôi bị một nhóm thanh niên bặm trợn đón đường, nói thẳng: "Nếu anh biết điều, nhà trường sẽ không để anh thiệt và sẽ có xe đưa anh về Hà Nội. Bằng không, anh sẽ khó có đường về…". Vì quá đột ngột nên tôi không chuẩn bị máy ghi âm nên không thể có bằng chứng. Chỉ còn cách là tạm thời như là chấp nhận lời đề nghị của họ để thoát hiểm. Ngay tối hôm đó, tôi nhờ một người quen nơi tôi tá túc đến báo với Công an Hòa Bình sự việc bị đe dọa. Những buổi làm việc sau đó, tôi nói với người hiệu trưởng rằng tài liệu thu thập được thì nhiều. Tuy nhiên, không phải tất cả sẽ đưa lên báo mà có chọn lọc để có cách giải quyết tốt nhất. Tôi cứ nói chung chung như vậy cốt cho xong việc ở trường để về Hà Nội được an toàn.

Sau đó, tôi viết bài "Bất công, ngang trái một tiếng đàn" đăng 2 số báo liên tiếp, được đồng chí Tổng Biên tập và Bộ Văn hóa khen ngợi về chất lượng bài báo, biểu dương về tinh thần khôn khéo, không mắc mưu đối tượng khi viết bài đấu tranh chống tiêu cực.

Sau đó, nhân vật hiệu trưởng mới này lại bị "đổ". Còn nhà cải tiến nhạc cụ Tạ Thâm thì sống đến năm 1997, để lại một khối lượng đáng kể nhạc cụ dân tộc được cải tiến, đến hôm nay vẫn phát huy tác dụng trên khắp các sân khấu biếu diễn ở mọi nơi.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.