Nguyễn Xuân Sanh - người cách tân “Thơ Mới”

Nguyễn Xuân Sanh năm nay vào tuổi 100. Ông sinh năm 1920 tại Đà Lạt. Quê gốc thuộc huyện Quảng Ninh tỉnh Quảng Bình, xuất hiện trong phong trào Thơ Mới, nhưng đường lối thơ ông có nét khác biệt.

Ấy là lúc dòng thơ lãng mạn tiêu biểu của Thơ Mới đã lên đến đỉnh với các tên tuổi Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Lưu Trọng Lư… Thì một số nhà thơ muốn đẩy thơ lên một nấc cách tân mới hơn, tìm một vẻ đẹp thuần túy cho thơ, một vẻ thơ thuần túy cho cái Đẹp. 

Trong khuynh hướng ấy, nhóm “Xuân thu nhã tập” (tên nhóm cũng chính là tên tờ Tạp chí do họ chủ trương) là một lực lượng đáng kể. Đáng kể vì họ tập hợp được nhiều lĩnh vực: văn, thơ, mỹ thuật, âm nhạc. Nguyễn Xuân Sanh chính là một trong sáu thành viên của nhóm này (còn có Nguyễn Đỗ Cung, Phạm Văn Hạnh, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Lương Ngọc, Đoàn Phú Tứ). 

Nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh.
Nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh.

Đi tìm một thứ thơ thuần túy, không vụ lợi, Nguyễn Xuân Sanh đã đi từ những bài thơ giản dị, viết vào các năm 1934, 1935: “Sáng nay anh lạnh quá em ơi! Bởi gió thu em đã đến rồi” đến những bài thơ chịu ảnh hưởng của tượng trưng, siêu thực, hướng vào cõi trực giác, vô thức. Ông khuyên người đọc không nên dùng ý thức, đòi cắt nghĩa, đòi giảng giải tách bạch. Nguyễn Xuân Sanh, trong hướng tìm này, đã có nhiều câu thơ trong trẻo, gợi cảm:

“Hãy vớt trầm mai vang nắng gió
Đường xuân rồi khép với chiều tơ”

Câu trước hơi tối nghĩa, câu sau thật trong sáng. Giọng thơ rất tươi tắn. Ngay ở những câu thơ khó hiểu, chủ yếu cảm thụ bằng trực giác, chất thơ vẫn lộ một vẻ sáng, tươi trong:

“Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi
Chiều xanh ngát chở dấu xiêm y”

Tác giả đã chọn những từ có sức gợi. Sức gợi đúng là nằm ở từng từ, hoa quỳnh, chiều, nhạc, trầm mi, hồn xiêm, y, xanh, ngát, đọng chứ chưa tính đến mối liên kết giữa các từ, tức ý nghĩa của câu. Thi pháp này đã tạo nên những vẻ đẹp bất ngờ cho câu thơ, một vẻ đẹp mơ hồ, khó nắm bắt và rất mê hoặc. Vẻ đẹp của cảm giác và chỉ cảm giác thôi. 

Nhóm “Xuân thu nhã tập” ôm hoài bão thực hiện ba mục đích liên hoàn “Trí thức”, “sáng tạo”, “đạo lý”. Trí thức thúc đẩy sáng tạo để vươn tới Đạo. Có điều Trí thức không hình thành từ lý trí, từ tư duy logic mà dựa vào trực cảm, đốn ngộ, minh triết và sáng tạo lấy nền tảng từ vô thức, tiềm thức, giữ dáng vẻ hồn nhiên, thuần khiết, vượt qua mọi quy tắc nhân tạo của thơ. Thơ vươn tới Đạo, ở chỗ tồn tại như một hiện tượng thiên nhiên nguyên phát. “Xuân thu nhã tập” ảnh hưởng vào nhiều ngành nghệ thuật. 

Riêng thơ, Nguyễn Xuân Sanh tạo dựng thứ thơ không nương tựa vào nghĩa chữ mà dựa vào sức gợi thơ của chữ. Chữ mang chất thơ tinh khôi, nguyên khởi đến cho người. Ông đã có nhiều câu hay, nhưng thật ra không hẳn đã thoát ly nghĩa chữ. 

Nhiều người khen câu thơ “Đáy nghĩa mùa đi nhịp hải hà”, dựa vào cách giải thích của Phạm Văn Hạnh: hoa trái bày trên đĩa thay đổi theo mùa, nhìn vào đáy đĩa để đọc được nhịp đi của năm tháng, ý thơ như vậy là rất khám phá, câu thơ thật sáng tạo. Nhưng khen như thế lại khen vào nghĩa chữ mất rồi. Đây là chỗ lúng túng, thậm chí là không tưởng của “Xuân thu nhã tập”. 

Các vị ấy chủ trương thơ chỉ gợi, không truyền đạt ý nghĩa. Nhưng người đọc bao giờ cũng có xu hướng tìm nghĩa để nhận ra thơ. Chúng ta cần tận dụng sức gợi trực giác của chữ, nhưng bao giờ thơ cũng có nhiệm vụ chuyển đi một thông điệp mà nội dung thông điệp, dù rằng có tràn ra ngoài, thì chủ yếu vẫn dựng trong nghĩa chữ. 

Cảm giác thẩm mỹ mà chúng ta thu nhận được từ nhiều câu thơ thuở Xuân thu nhã tập của Nguyễn Xuân Sanh thật ra đều có phần đóng góp của nghĩa chữ, dù là nghĩa rời từng chữ và nghĩa tổng hợp do cộng hưởng của một cụm chữ (chưa nói đến nghĩa do cú pháp mang lại): “Nhài đàn rót nguyệt vú đôi thơm/ tỳ bà sương cũ đựng rừng xa”. Câu trên có nghĩa của đàn, của nguyệt, của vú, của thơm. Cái nên thơ tạo nên từ đấy. Câu dưới thì nghĩa chữ tạo nên càng rõ. 

Chúng ta yêu thơ Nguyễn Xuân Sanh thuở ấy từ những câu thơ hay cụ thể, không bận tâm tới tuyên ngôn của ông. Câu hay nhặt được không ít, nhưng bài hay thì còn hiếm. Tại sao? Phải chăng bài hay là do thẩm định của ý thức chọn lựa, bằng tính logic, tính hệ thống, là những phương tiện tương kỵ với lối thơ trực giác này. Hay là để gợi cảm giác thì cần chi đến bài, quá cồng kềnh, dễ triệt tiêu nhau, đơn vị câu là đủ.

Vợ chồng nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh và nhà văn Nguyễn Thị Cẩm Thạnh thập niên 1960.
Vợ chồng nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh và nhà văn Nguyễn Thị Cẩm Thạnh thập niên 1960.

Đóng góp của Nguyễn Xuân Sanh từ những thể nghiệm “Xuân thu nhã tập” là ở chỗ kích thích tìm tòi, không để thơ ngủ quên trên thành công của dòng lãng mạn trước đó, mặt khác ông cung cấp thêm cho thơ những năng lực khêu gợi tiềm ẩn độc lập trong từng chữ. Tận dụng năng lực này sẽ tạo cho thơ sức lôi cuốn mê đắm, kỳ ảo, là điều rất cần với thơ, nhất là thơ chúng ta hôm nay.

Sau cách mạng tháng Tám, Nguyễn Xuân Sanh có mặt rất sớm trong hàng ngũ các nhà thơ cách mạng. Thơ ở ông có sự thay đổi dữ dội. Ông quyết liệt từ bỏ bầu trời nhiều hư ảo mê đắm để bước những bước chân trần thế vững chãi trên mặt đất. Ông trở về với hiện thực. Hiện thực trong đề tài, hiện thực trong cả cách diễn đạt, nhiều khi lại quá thật thà, nôm na. 

Ông làm quen có hơi chậm với cách lập ý hiện thực, với tính mạch lạc trong mối liên hệ của các ý thơ. Bài thơ đôi khi chen vào những mạch ý không biết dính vào đâu khá ngộ nghĩnh. Phải chăng tiếng vọng của thi pháp xưa còn dội lại. Nếu dội lại trong cảm xúc lãng mạn nhiều khi vẫn đắc địa. 

Trong bài “Nhạc rừng Việt Bắc” viết năm 1947, những câu đẹp nhất chính là những câu nhiều mơ mộng: “khi nở bụi vàng lên bước chậm/ nhớ chào con bướm đậu nghiêng lung” hoặc “song song đá ngủ bên người lạ/ thao thức cùng trăng đã mấy tuần”. Những năm sau này, Nguyễn Xuân Sanh phấn đấu hiện thực hóa thơ, thơ kể được nhiều chuyện đời, ganh đua với cả báo chí, nhưng từ trong đáy hồn ông, chất trữ tình nhiều lúc lại ánh lên làm sáng cả đoạn thơ:

Mũi én như bàn tay hứng trăng
Trút ánh đêm thu bãi cát bằng
Sóng vỗ bạc đầu quanh mỏm đá
Dạt dào nghe rõ tiếng đêm chăng?

Các bài “Trước xuân thăm chùa Hương”, “Đà Lạt trăng”, “Cái nắng Nha Trang”, “Mũi én”… là những bài hay, kết hợp được những tinh hoa bút pháp xưa trong phương thức sáng tác mới. Ở những bài này thơ có cái khỏe khoắn gần đời làm nền tảng vững chắc cho những liên tưởng lãng mạn cất cánh. Nhưng trong các bài thơ thiên về tự sự, thì những mảnh trữ tình ngoài đề hay có của Nguyễn Xuân Sanh thường không gắn lắm, bài thơ trở nên chắp vá, khi đại ngôn, khi sáo mòn: “trong khi đá sỏi đường phá/ Mặc bom, vẫn lối xe qua hai bờ/Ta cùng nghiêng bóng sông trưa/ Thấy hình lịch sử nghìn xưa soi vào…”.

Khuynh hướng phấn đấu của Xuân thu nhã tập trong nhiều năm chiến tranh (chống Pháp và chống Mỹ) không được đánh giá cao. Bản thân Nguyễn Xuân Sanh cũng li khai nó, quyết liệt chuyển sang hiện thực, lấy thơ làm vũ khí phục vụ cuộc chiến đấu giành độc lập và thống nhất đất nước. 

Sau quốc sách đổi mới, các khuynh hướng cách tân lại được phục hồi, với nhiều nhà thơ trẻ. Ý nguyện sáng tạo cách tân thuở xưa ít nhiều xao động trong Nguyễn Xuân Sanh. Ông có nói lại với nhiều tự hào và lưu luyển những mục đích của Xuân thu nhã tập. Nhưng thời gian của riêng ông không còn nhiều để có thể mở lại chặng đi mới cho thơ.

Có thể nói, cho đến tháng 11 của năm Canh Tý 2020 này, ông là người duy nhất còn lại của phong trào Thơ Mới và là biểu tượng của một khuynh hướng cách tân táo bạo có ảnh hưởng vào tiến trình thơ Việt ở thập kỷ 40, thế kỷ XX.

Thế nhưng, giữa những ngày cuối thu chớm đông của tháng 11 này, nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh đã chọn thời điểm đẹp nhất để về trời. Miền miên viễn ấy, hẳn ông đang tay cầm túi rượu bầu thơ dạo chơi chốn bồng lai tiên cảnh.

Kính chúc ông hạnh phúc ở miền xa ấy.

Vũ Quần Phương

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.