Nguyễn Thành Tuấn - Ta ở đâu trong ký ức làng

Không thể nào ngờ tóc mình sớm “nở hoa xuân”. Thấm thoắt mút U50 còn anh đã giữa mùa “lục thập nhi nhĩ thuận”. Nhiều năm lưu lạc phương Nam, nghe nói anh tìm ra một đảo giữa bốn bề sông nước tự, nghiền ngẫm tu tập đối diện riêng mình. Những câu thơ của anh chúng tôi thường đọc trong lúc say mềm chỉ mấy thằng “kỳ hình dị tướng” với nhau.

Ta đã đi biền biệt tháng năm bỏ quên tiếng vỗ rá ao quê trầm trầm trưa mưa giáp hạt vào lắc lơ tiềm thức/ Lướt vó trên những ban mai thiếu nữ Mông ngực nồng nàn cõng ống bương tựa cửa thung lũng mây chảy về trắng muốt/ Ta đã đến những cổng trời không phải cánh đồng thơ mà là cánh đồng hoa nở li ti cùng đá cô dâu chú rể tí hon hồn nhiên đi trong tiếng khèn thảng thốt/ Ta đã bước qua cổng trời”. (Đi).

Cứ như thơ và người thơ Nguyễn Thành Tuấn thì nếu phải thiên di, Tuấn sẽ đi về miền ngược nơi núi rừng kỳ vĩ vùng Đông Bắc mà anh từng là một người lính nhiều năm đóng ở các đồn Cao Bằng từng viết những câu thơ: “Một bát rượu men rừng/ Cười vỡ tan con thác/ Một đêm mưa giá buốt/ Sâu kiệt cùng ánh than/ Một câu lượn vút lên/ Đường tuần tra ngang bản/ Những đêm gào tên bạn/ Pháo hú quanh tơi bời… Đất nước trăm trận mạc/ Muốn tìm người lính thường/ Hãy tìm trong dáng đá/ Vọng Phu qua gió sương…”. (Lính thường).

Nhà thơ Nguyễn Thanh Tuấn.
Nhà thơ Nguyễn Thanh Tuấn.

Sao anh chọn phương Nam? Đi đột ngột. Đi như bùa ngải dẫn dụ mà đi. Chừng như vô định? Chừng như mất phương hướng bởi xưa nay Nguyễn Thành Tuấn chưa bao giờ “tự kế hoạch” đời mình. Đi bốc sạch cả gia đình cùng Nam tiến. Anh không phải giới showbiz làm sao ham ánh sáng phương Nam? Chị đương yên ổn chức vụ Hiệu phó một trường học ở quê. Tổ tiên gia đình họ mạc nội ngoại hai bên đều nơi vùng đất anh từng viết: “Bố dắt con ra đường làng/ Cho con nhận từng viên gạch/ Trên bầu trời xanh như sông/ Ở dưới đôi bờ tre trúc”. (Đường làng), sao đùng cái hành phương Nam thanh thản như mây vân du bốn phương trời.

Nguyễn Thành Tuấn là một ca khá lạ. Từng một thời Tuấn xứ Đông hợp với Dương Kiều Minh xứ Đoài cặp bài trùng thơ phú nức danh giữa thiên hạ nửa con mắt thơ đa đoan đắm đuối một mình một cõi khiến người đời thấp thỏm mừng lo. Thơ Thành Tuấn hướng về truyền thống, lấy sự bình dị làm nền, ưa mới mà không nới cũ, vừa tay bắt mặt mừng với người sang vừa thắm thiết an yên với bạn cũ xóm giềng nu nấng. 

Tuấn đôi lúc bay lên mây vẫn còn hẫng sợi dây diều mỏng mảnh ràng nơi mặt đất. Dây diều đứt rồi đi đâu? Bão tố ngoài kia mây đen gió trắng voi thần ai biết nông sâu lành dữ? Thôi hãy biết điều: “Giấu đi gốc gác ngày đô thị/ Mùi đất đồng chiêm thức mỗi đêm/ Thương miếng khoai vùi ngày trọ học/ Khát khúc sông trong thuở tắm truồng”. (Ký ức làng); “Ta đến đâu cũng gặp mình thổn thức/ Đêm hội tan những gót chân xinh/ Giã biệt hào hoa liền anh liền chị/ Sớm mai vùi dưới mặt bùn”. (Hội làng)… nghĩa Tuấn vẫn coi gốc gác quê hương làm trọng, vẫn biết ơn bồi đắp lớn lao từ hạt lúa, củ khoai nơi vạt ruộng, góc làng.

Nguyễn Thành Tuấn là một nhà thơ được kỳ vọng ở Hưng Yên nhiều thập niên gần đây, nhất là giai đoạn anh làm Phó Chủ tịch Hội - Tổng Biên tập Tạp chí Phố Hiến đã mời gọi được những trang văn, thơ độc đáo và đặc sắc. Tất nhiên có những người, kể cả giới lãnh đạo không ưa gì mấy ông thơ thẩn hay phát biểu văng mạng khắp nơi. Lại còn hay nói thật. Lại còn hay nói đúng trong khi phải nói chệch khác đi, nói vòng vèo giống như thơ thì ông lại làm thơ còn thì nói thẳng, thành ra chỗ đứng cứ chênh chao rồi không chịu được mà vuột hẳn. Chuyện này giới văn nghệ địa phương là cơm bữa và chúng tôi lại mừng cho anh. 

Những lúc ấy, Tuấn vẫn là một nhà thơ đúng nghĩa: “Và em vẫn có quyền cởi áo/ Trút dưới chân trần tất cả những mùa đông/ Giọt nước đầu tiên từ vai em lăn xuống/ Bật chồi xuân khắp châu thổ sông Hồng”. (Phóng túng sông Hồng); “Ta dối một người sắp khuất/ Cho họ yên lòng đi xa/ Ta dối lòng ta/ Nuôi hy vọng/ Ta ngày ngày giả dối/ Để đêm đêm được cắn rứt lương tâm”. (Sự giả dối)…

Nhà thơ Nguyễn Thanh Tuấn (thứ 2 từ phải sang) cùng các bạn văn.
Nhà thơ Nguyễn Thanh Tuấn (thứ 2 từ phải sang) cùng các bạn văn.

Nguyễn Thành Tuấn vốn dân triết học. Cái gì cũng coi triết học làm đầu. Vậy mà những phi lý trong cuộc đời thẳng cánh giáng vào anh, Tuấn không hề biết cãi. Hoặc cự cãi chỉ là cự cãi ở trong thơ. Ở ngoài, tôi thấy anh luôn đuối lý dù lẽ phải đã mười mươi thuộc về mình. 

Có một lần, tôi cùng anh với nhà văn Đào Bá Đoàn đi nhậu ở một ngôi đền ngập nước. Đến lúc say thì không biết đường về. Đoàn đã được một cô gái tóc dài cháu cụ thủ từ dẫn đi đâu mất. Nhà mình cách mấy gang tay mà không về được thật nực cười. Song lúc đó còn trẻ nên coi sự này cũng thường không phải sự biến gì ghê gớm. Dẫu rằng buổi tối Đoàn đã tuyên bố cưới cô gái kia?! Bây giờ chúng ở nơi đâu giữa mênh mông trời nước? Lạ cái, ông thủ từ chỉ ngồi im như tượng không nói không rằng, càng tuyệt không ngăn đôi kia bước vào đêm tối giữa vùng sông nước. 

Mãi khi trời sáng, mấy anh em dân quân xã dùng thuyền đưa bọn tôi ra thị trấn ăn sáng trở về nhà Nguyễn Thành Tuấn thấy đôi kia tinh tươm ríu rít trong căn bếp nhỏ như ở chính nhà mình. Có lẽ nào chúng tưởng đây là chốn thần tiên đang ở chăng? Hai anh em đành rút khỏi nhà mặc kệ đôi tiên đồng ngọc nữ. 

Sau đó, Tuấn có bài thơ: “Bỏ lại giáo điều trong ngôi đền ngập nước/ Đoàn đi trong mưa/ Thôn nữ tóc dài như sông/ Ngực duyềnh lên cuộn mùa đổ ải/ Có phải Đoàn lựa chọn?/ Có phải Đoàn tự do?/ Đi/ Đi tan thành quãng đường phân trâu lầm lội/ Đi mọc cúc tần lá sả hương nhu… Dòng sông khóc trong mưa/ Xác Đoàn cách mép nước đẵm phù sa một với…”. (Đoàn đi tới dòng sông).

Nguyễn Thành Tuấn không chỉ mê mẩn quê hương mà còn mê mẩn con người, không những người nam như Đoàn đâu mà những người nữ Tuấn ta cũng thơ thẩn lắm: “Nếu em nhà chẳng kề bên/ Thì chùa tôi chẳng nhớ tên làm gì/ Ngang qua tôi mãi mũ ni/ Làm sao nghe tiếng thầm thì đại rơi… Nhưng em chẳng có chồng rồi?/ Vào chùa tôi nguyện làm người xuất gia”. (Chùa Phố Hiến); “Em tinh khôi từ mưa phùn bước ra/ Những mắt lá bàng hoàng mở theo/ Những dòng sông đang dâng ngoảnh đi dằn dỗi/ Anh hoảng sợ hét em đứng lại/ Cuối đường kia mây rất bất thường”. (Cuối đường mưa phùn)…

Nguyễn Thành Tuấn từ khi lưu lạc phương Nam thấm thoắt gần mười năm, vài bận về quê cha đất tổ có khi bạn thơ cũng lưu lạc đẩu đâu hoặc bận kế mưu sinh buông bỏ văn chương chữ nghĩa. Như bản thân Tuấn, người thơ được kỳ vọng đã găm sâu vào trí nhớ mấy câu thơ còn trong ký ức làng giờ đây còn có như xưa? “Sao không trở lại bờ đê/ Diều lên thả hết đam mê thị thành/ Ổi ương sung chát sông xanh/ Cởi quần cởi áo mình trần như nhau/ Bãi Soi ngạo nghễ lưng trâu/ Ngã đâu cũng ngã đất nâu quê nhà/ Giông lên cho trắng cỏ gà/ Nhường em nhát chọi thế mà trắng tay”. (Không đề).

Năm tháng trôi đi, bả phú quý vinh hoa đã từ lâu là bèo bọt. Những buồn vui được mất phù phiếm thị phi như mây nổi trên đầu. Nguyễn Thành Tuấn ở một nơi xa nhìn về hoặc anh em bạn cũ tìm đọc thơ anh cũng là lẽ công bằng. Trong khi những giá trị cốt lõi về văn hóa, về lịch sử, về con người dường như đang phải chịu quá nhiều sức ép; sức ép từ cái mới ồ ạt kéo đến; sức ép từ cái cũ dai dẳng không buông; sức ép từ mỗi bản thân theo thời gian năm tháng tự nguyện quy hàng. Ôi chao sức ép khiến người ta mờ mịt. Trong khung cảnh ấy, may thay, Nguyễn Thành Tuấn còn kịp cho rằng: “Thoát xống áo ao đình tôm cá/ Cẩn thận kẻo quên để mắc cành sen/ Vỗ nhát nữa ngựa hồng hóa đá/ Chỉ mang theo chú trâu thục hiền/ Bay bay qua sương đồng bảng lảng/ Tan vào hư không…”. (Giấc mơ).

Ôi Nguyễn Thành Tuấn! Dường như mọi thứ đã an yên ở những nẻo trời khác nhau chăng? Người lành hiền thua thiệt cũng là một hằng số chăng? Các chị các anh, đã lấy văn chương làm lẽ sống tất hiểu “thế giới vô cùng vạn vật giai không” là lời Phật tổ từ nghìn năm trước? Phương Bắc phương Nam đâu có nề hà cương vực văn chương? Chúng ta cùng một cõi. Chúng ta cùng một nhịp. Chúng ta cùng một lẽ tử sinh chung nhau những mơ hồ chẳng phải là duyên trời đất đó sao?

Phùng Văn Khai

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.