Nguyễn Khuyến - Cái nhìn nghệ thuật riêng!

Những văn hào lớn thường có quan niệm riêng về sáng tạo và tiếp nhận, bắt đầu từ cái nhìn này mà quy định thế giới nghệ thuật mang phong cách riêng, vị trí riêng. Ngày nay được gọi là “mỹ học cái Khác”. Đóng góp của người nghệ sĩ, trước hết phải Khác, đó là tiền đề của cái Mới. Nhà thơ Nguyễn Khuyến (1835 - 1910) là một trường hợp như vậy.

Từng để lại cho văn học Việt Nam những câu thơ hay cảm động về tình bạn, qua đó, chúng ta hiểu thêm quan niệm về tác phẩm nghệ thuật phải là tiếng nói của sự tri âm. Có thể gọi đó là mỹ học về sự tri âm: “Câu thơ nghĩ đắn đo không viết/ Viết đưa ai, ai biết mà đưa/ Giường kia treo cũng hững hờ/ Đàn kia gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn” (Khóc Dương Khuê). Tác phẩm (câu thơ) phải là sản phẩm của sự suy nghĩ thấu đáo (đắn đo), và có đối tượng tiếp nhận phù hợp. Ý thơ lấy từ tích Trần Phồn đời Hậu Hán có bạn thân là Từ Trĩ. Phồn dành riêng cái giường, Trĩ đến thì mời ngồi, Trĩ về thì treo giường lên. Bá Nha và Chung Tử Kỳ là bạn tri âm. Tử Kỳ mất, Bá Nha đập đàn không gẩy nữa.

Nguyễn Khuyến - Cái nhìn nghệ thuật riêng! -1
Nhà thơ Nguyễn Khuyến.

Mượn hình tượng cây dành dành (là hoa cảnh và làm thuốc) nhà thơ nói về nghệ thuật có giá trị tự thân, không cần đến sự nâng đỡ, “hữu xạ tự nhiên hương”: “Dành dành không có đất bón/ Mà tươi tốt thế kia/ Mới biết hễ có chất tốt thì tạo hóa vun đắp cho/ Không cần mượn ai nâng đỡ cả” (Tiểu cảnh). “Chất tốt” có thể hiểu là nội lực, là tài năng nhà nghệ sĩ. Có tài năng thì chẳng cần đến nguồn dinh dưỡng bên ngoài (đất bón), càng chẳng cần đến “nâng đỡ”. Tác phẩm đích thực của tài năng đích thực sẽ tuyệt đối trong sáng, tự nhiên: “Băng ngọc thiên nhiên nãi nhĩ tài - Trong như băng, trắng như ngọc, thiên nhiên đục chuốt ra như thế” (Thủy tiên). Sẽ sống mãi với thời gian: “Phương xú phân minh thiên tải hậu - Thơm thối dù nghìn năm sau vẫn rõ ràng” (Thủy tiên).

Rất trân trọng cái đẹp, với tư cách một “ông say”, nhà thơ tả cây mai: “Mùi hương mát dịu, đáng đứng đầu trăm hoa/ Chỉ có ông say sớm tối thường an ủi ngươi/ Còn người đời, không ai biết ngươi, thật đáng buồn” (Vịnh mai). Đó là một quan niệm về cái đẹp kín đáo, không sặc sỡ, thâm trầm (mát dịu). Buồn thay cho người đời không biết đến cái đẹp như vậy, mà chỉ có “ông say” này biết yêu thương, biết thưởng thức. Thì ra ông lão ấy không phải là “say” nữa, mà là tỉnh, thậm chí tinh tường vượt lên trên cả thế gian trần tục và phàm tục. Không vụ lợi nên nghệ thuật phải tránh xa nơi buôn bán thô tục.

Nhà thơ tả chậu hoa thủy tiên đặt nơi sang trọng: “Đặt vào bể đá để trên chỗ ngồi/ Sáng hôm sau thấy nở ra vài bông hoa/ Đem dồn cho bọn con buôn lớn thì còn kén chọn gì?” (Thủy tiên). Bài thơ như một tiếng thở dài toát ra từ một tình thế tương phản: hoa đẹp thế kia mà bán cho “bọn con buôn”, thì cần gì đến sự “kén chọn”. Họ chỉ biết tiền chứ đâu cần biết đến cái đẹp. Nghệ thuật phải có giá trị tương ứng với chính nó: “Văn ta tuy chẳng hay/ Há không xứng ba tiền/ Khách mua sao rẻ thế/ Không đáng giá ta không bán” (Bán hàng đối trướng). Cho thấy một quan niệm con người phải biết trân trọng nghệ thuật, kể cả sáng tạo và kẻ tiếp nhận.

Còn là một quan niệm nghệ thuật phải thiết thực, có tác dụng với nhân sinh. Thời gian sẽ cho thấy văn này hay, đáng đọc, văn kia dở, nên bỏ qua. Ông mỉa mai thứ văn sáo rỗng, tán tụng: “Văn bia không đốt như văn tế/ Ghi rõ để lưu truyền về sau, không phải dễ/ Dài ngắn đã khó mà đo được nghìn dặm/ Phải trái còn có người trăm năm sau mới biết/ Gần đây sự học đã hoang phế nhiều/ Huống chi gặp thời buổi rối ren/ Bác hãy trở về mà tìm lấy thì sẽ được/ Thứ văn tán tụng công đức, kinh đô không thiếu” (Lại nghĩ hộ bài văn bia ghi công đức cho người không xong, nhân làm thơ trả lời).

Bối cảnh bài thơ này ra đời khi có người cũng dạng “văn hay chữ tốt” đến xin nhà thơ mấy câu đề khắc bia. Suy nghĩ mãi Nguyễn Khuyến trả lời bằng thơ. Trong bản phiên âm chữ Hán, câu “Trường đoản dĩ nan thiên lý đạc” (Dài ngắn đã khó mà đo được nghìn dặm) có từ điển cố: “Xích bức thiên lý” nghĩa là bức tranh một thước mà thu vào nghìn dặm. Là sự nhắc lại ý người xưa: văn chương phải hàm súc, lời ít ý nhiều nên cần sự công phu chưng cất thi liệu từ đời sống, rồi còn phải “thôi xao” câu chữ, may ra mới đến được với đời, với người.

Chủ trương đã là nghệ thuật phải có bản sắc, tiếng nói riêng, trong bài “Chủ thần tiên nhục” (Nấu món thịt thần tiên) nhà thơ khẳng định phải kế thừa học tập lẫn nhau để làm giàu có vốn văn hóa nhưng phải giữ được cái riêng, không được bắt chước: “Nam nhân hiệu bắc nam phi nam/ Tục tử tòng tiên tục cánh tục/ Sở dĩ Chung Nghi thao thổ âm” (Người nam bắt chước người bắc, nam chẳng còn là nam/ Kẻ tục theo tiên, tục càng thêm tục/ Cho nên Chung Nghi gảy đàn cứ giữ âm điệu quê hương).

Điển tích Chung Nghi làm quan coi nhạc nước Sở bị nước Trịnh bắt hiến cho nước Tấn. Khi vua Tấn bảo Chung Nghi đàn, Nghi không gảy theo âm điệu miền bắc mà gảy theo âm điệu miền nam, tức âm nhạc nước Sở. Nghi điển hình cho một tấm gương văn hóa có nhân cách, chí khí, bản lĩnh, yêu quý, tôn trọng văn hóa dân tộc, đất nước mình. Ý thơ này như là nói với hôm nay, thời buổi văn hóa toàn cầu, nếu cứ bắt chước sẽ thành nô lệ, đánh mất mình.

Nguyễn Khuyến - Cái nhìn nghệ thuật riêng! -0
Hình ảnh ngư ông câu cá.

Có thể hiểu qua bài “Mẹ Mốc” nhà thơ nói về mối quan hệ nội dung - hình thức: “Giữ son sắt êm đềm một tiết/ Sạch như nước, trắng như ngà/ trong như tuyết/ Mảnh gương trinh vằng vặc quyết không nhơ”. Một câu chuyện có thật: năm 1897 ở Nam Định có người đàn bà rất trẻ đẹp mắc bệnh tâm thần, thường ăn mặc rách rưới, nhem nhuốc lang thang hát nghêu ngao. Trước đây thuộc diện khá giả, giàu có, chẳng may loạn lạc, chồng con chết mà bị phát điên. Hiểu vậy thấy rõ hơn bút pháp mỹ lệ hóa cái xấu xí để nhấn mạnh tới cái nội dung, coi cái đẹp bên trong mới là quyết định. Nhà thơ thông cảm và “biện minh” cho việc rách rưới như vậy là “Làm thế để cho qua mắt tục”, còn tấm lòng thì vẫn như “mảnh gương” “vằng vặc”. Bài thơ còn hướng tới một sự tố cáo xã hội tao loạn đẩy con người vào cảnh khốn cùng, đẩy thân phận cái đẹp vào chỗ phải tự làm xấu xí đi để tồn tại!

Là một nhà thơ lớn, Nguyễn Khuyến sớm có quan niệm riêng về cái khác lạ. Ông chủ trương đã cầm bút thì không ai giống ai, nếu có giống thì lập tức đó là giả chứ không phải thật. Bài “Kính” (Gương) chỉ có 4 câu: “Thế gian mi mục tổng phi chân/ Nhất trụ kim đồng bách vạn thân/ Tá vấn trần ai thùy tự ngã?/ Khán lai duy hữu kính trung nhân” (Trên thế gian mắt mày đều không thật/ Cái gương soi trăm vạn thân người/ Trong trần ai này, ai giống mình?/ Xem ra chỉ là người trong gương thôi).

Theo thời gian, “mắt mày” đều thay đổi nên không thật ngay với chính mình, huống hồ so sánh với người khác. Có thấy giống với ai cũng chẳng nói nên điều gì, vì đó chỉ là hiện tượng “giả”. Muốn xem giống mình nhất thì chỉ có cách soi gương, đối diện với chính mình, so sánh với mình, trong một thời điểm. Còn ngoài ra, mình cũng phải khác mình. Bật toát ra một nguyên lý sáng tạo: khác người và phải khác chính mình, không lặp lại mình. Với quan niệm ấy, nhà thơ trân trọng những vẻ đẹp có nét riêng. Ông yêu hoa cúc, vì nó khác mọi loài hoa: “Bách hoa khai thời nhĩ vị khai/ Bách hoa lạc hậu nhĩ phương lai" (Khi trăm hoa nở thì ngươi chưa nở/ Khi trăm hoa rụng rồi mới thấy ngươi đến) (Vịnh cúc).

Mỹ học cái đẹp hài hòa, bình dị, chân quê của Nguyễn Khuyến biểu hiện tập trung nhất ở bài “Ái quất” (Yêu quất): “Người yêu cúc, kẻ yêu sen/ Người xưa mỗi người yêu mỗi thứ/ Tính ta vốn yêu rộng/ Đến tuổi già chỉ yêu quất/ Yêu vì cay mà không xé lưỡi/ Yêu vì chua mà không ghê người/ Yêu vì đắng mà không như mật đắng/ Yêu vì ngọt mà không như mật ngọt/ Đã làm cho người ngon miệng/ Lại chữa cho người khỏi bệnh/ Không đua thơm với ai/ Không tranh tốt với ai/ Chốn vườn nhỏ dễ yên thân/ Mùa đông rét không khuất phục được/ Quân tử thay gã này/ Bọn tầm thường ít kẻ sánh kịp”.

Một quan niệm bình dân, chân quê, mộc mạc thật khác biệt trong thơ chữ Hán trung đại. Không phải là tùng, cúc, trúc, mai đã thành biểu trưng nhưng mòn sáo, xa cách, mà là “quất”, nhà dân nào cũng có, gần gũi, thân thuộc, có ích lợi cho mọi người. Bài thơ còn thể hiện cách sống “lánh đục tìm trong”, “thanh bần lạc đạo” không chịu tầm thường. Một “nghệ thuật vị nhân sinh” đáng quý!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.