Người viết thi phẩm hay nhất về “ngày 30/4” đã về trời

Nguyễn Đức Mậu là một người thơ hiền lành và rất mực thương quý bạn bè. Chơi với nhau hơn ba chục năm, ông chưa bao giờ lớn tiếng và cứ thủ thà thủ thỉ với tôi như một người em thân thiết.

Tin nhà thơ Nguyễn Đức Mậu bất ngờ qua đời sau một cơn đột quỵ vào ngày 7/4/2026 đã để lại vô vàn nỗi tiếc thương trong lòng bạn bè văn chương. Facebook Đoàn Văn Mật là người báo tin đầu tiên. Anh viết:

Mới vài hôm trước thôi, cháu vẫn còn gặp chú ở bến chờ xe buýt, vẫn thấy bóng dáng chú lặng lẽ bước đi trước cổng Nhà số 4. Bởi mới chỉ hôm qua và sáng nay vẫn có người gọi điện, nhắn tin nhờ cháu gửi số điện thoại của chú. Cây đại Nhà số 4 mùa này hoa rơi nhiều quá chú ạ! Rơi vu vơ trầm mặc những nỗi buồn. Rơi như niềm tiếc thương một người thân đã rời khỏi thế gian này.

“Nơi tôi ở hoa đại rơi trắng đất/ Có ai nhìn hoa nghĩ tóc bạc trên đầu”. (thơ chú Mậu)

Chú ra đi nhẹ nhàng như một cuộc rong chơi đến với cõi khác. Chú ra đi theo đúng nghĩa một người đang đi trên đường luôn nở nụ cười hiền. Chú ra đi nhẹ nhàng và lặng lẽ như những bước chú đi trên đường qua Nhà số 4 vào sáng sớm, vào lửng trưa và cuối chiều”. Còn trên Facebook Sương Nguyệt Minh: “Nhà số 4 Lý Nam Đế gọi ông là NGƯỜI HIỀN. Nhớ ông là nhớ Người hiền. Nhớ ông là nhớ "Trường ca sư đoàn", nhớ "Nấm mộ và cây trầm", nhớ "Nếu tất cả trở về đông đủ/ Sư đoàn tôi sẽ thành mấy Sư đoàn", nhớ "Màu hoa đỏ"... Ông ra đi, nhưng thơ còn ở lại mãi mãi với đời”...

Người viết thi phẩm hay nhất về “ngày 30/4” đã về trời -1
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.

Nguyễn Đức Mậu là một người thơ hiền lành và rất mực thương quý bạn bè. Chơi với nhau hơn ba chục năm, ông chưa bao giờ lớn tiếng và cứ thủ thà thủ thỉ với tôi như một người em thân thiết. Ngay cả khi có mấy năm cùng ngồi với nhau trong Hội đồng thơ, Hội nhà văn Việt Nam, khi cần trao đổi, cần tranh luận về một giải thưởng, một tác giả văn chương, ông cứ mềm mỏng phân tích, nhẹ nhàng thuyết phục.

Ông thường bảo tôi: "Đến nhà mình chơi đi, có mấy chai vang ngon lắm". Tôi và nhà thơ Bằng Việt có hôm đến nhà ông cùng chấm một giải thơ, uống vang say tít mù, lúc Bằng Việt về bị thổi nồng độ cồn, bị tịch thu mất luôn chiếc xe máy, ông Mậu than thở mãi. Đầu năm rồi, khi cùng chấm giải thưởng thơ cho Hội VHNT Ninh Bình và Hội VHNT Lạng Sơn, ông khẽ khàng bảo tôi: "Ta chú ý đến các cây viết trẻ để động viên họ là đúng, nhưng cũng cần chú ý đến mấy bác cao tuổi vì trước đây họ cũng là những cây bút chủ lực của địa phương đấy".

Một người hiền luôn quan tâm đến bạn bè

Cách đây ít ngày, khi biết tôi đang mắc bệnh trọng, ông còn dặn dò, nhắn tin địa chỉ mua bột củ sen ăn sáng vừa rẻ vừa chữa được nhiều bệnh. Nguyễn Đức Mậu là thế, luôn tốt bụng và mộc mạc chân thành với bạn bè, gặp nhau là thăm hỏi chuyện đời sống, sức khoẻ, chuyện gia đình rất tận tình và chia sẻ. Ông như thể một người hiền không thể hiền hơn trong làng thơ Việt Nam hôm nay.

Tôi nhớ mãi lời khuyên ân cần của ông hôm ấy: "Cả nhà tôi đều ăn bột củ sen, tốt lắm ông ạ, tôi khoẻ mạnh không bệnh tật cũng nhờ nó đấy, ông chịu khó ăn đi nhé". Đúng là Nguyễn Đức Mậu vẫn khoẻ mạnh bình thường cho đến buổi sáng định mệnh khi ông lên xe buýt có việc đi lên phố và gặp cơn đột quỵ phải rời bỏ thế gian này vào một ngày tháng tư nóng bức, để lại một khoảng trống trong lòng bạn đọc và thi ca.

Có lẽ tháng tư với ông thật đặc biệt, vì cách đây 51 năm, Nguyễn Đức Mậu đã viết một trong những bài thơ hay nhất của mình về "Ngày30/4" lịch sử khi non sông thống nhất, đất nước hoà bình sau đêm dài chiến tranh.

Là một người lính đã hiến dâng trọn đời thơ mình cho đất nước, những bài thơ viết trong chiến tranh của ông là những bản giao hưởng anh hùng ca đậm chất sử thi bi tráng.Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu, sinh năm 1948; Quê quán Nam Trực, Nam Định nay là tỉnh Ninh Bình; Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam năm 1977.

Ông nhập ngũ năm 1966, chiến đấu trong đội hình sư đoàn 312 ở chiến trường Lào và chiến trường B. Sau chiến tranh ông làm biên tập viên, rồi đi học trường viết văn Nguyễn Du khóa I, sau đó làm Trưởng ban Thơ tạp chí Văn nghệ Quân đội, Phó chủ tịch Hội đồng Thơ – Hội nhà văn Việt Nam. Về hưu với quân hàm Đại tá.

Ông đã in 21 tâp thơ, trường ca và truyện ngắn, tiểu thuyết. Ông đã được trao nhiều giải thưởng văn học uy tín. Trong mạch thơ viết về chiến tranh cách mạng và người lính Việt Nam, Nguyễn Đức Mậu là một gương mặt giàu bản lĩnh, từng đi qua chiến trường nên thơ ông luôn mang độ chân thực của trải nghiệm sống, đồng thời vẫn có độ ngân rung của cảm xúc và chiều sâu suy tưởng.

Bài thơ “Ngày 30/4” là một trong những thi phẩm tiêu biểu viết về chiến thắng lịch sử của dân tộc - ngày đất nước thống nhất, non sông thu về một mối. Ở đó, người đọc không chỉ bắt gặp niềm vui vỡ òa của đại thắng mùa xuân 1975, mà còn cảm nhận được dáng đứng lớn lao của dân tộc, vẻ đẹp bi tráng của người chiến sĩ, và âm hưởng hào hùng, rộng lớn của một bản thơ mang đậm chất tráng ca - sử thi. Bài thơ vừa là khúc ca chiến thắng, vừa là khúc tưởng niệm, khúc đoàn viên, và hơn hết là khúc ngợi ca con người Việt Nam đã bước qua máu lửa để đi đến hòa bình.

Người viết thi phẩm hay nhất về “ngày 30/4” đã về trời -0
Các tập thơ mới của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.

Điều làm nên sức mạnh tư tưởng trước hết của bài thơ là nhà thơ đã tái hiện ngày 30/4 không như một cột mốc lịch sử khô cứng, mà như một thời khắc thiêng liêng, một bước ngoặt lớn của vận mệnh dân tộc. Ngay từ những câu thơ mở đầu, Nguyễn Đức Mậu đã dựng lên một hình tượng trung tâm khi người lính từ Trường Sơn tiến vào thành phố.

Một trong những đoạn thơ hay nhất của bài là đoạn diễn tả ranh giới mong manh mà quyết liệt giữa chiến tranh và hòa bình: “Ngày 30 tháng 4/ Sáng chúng tôi dồn đạn vào nòng/ Chiều xanh trời ngẩng mặt đón trời xanh/ Hoà bình và chiến tranh/ Cách nhau bằng nấc đạn”. Câu thơ “Hòa bình và chiến tranh/ Cách nhau bằng nấc đạn” có sức khái quát lớn, vừa hiện thực vừa triết lý. Chính ở đây, chất sử thi của bài thơ được đẩy lên rõ nét khi số phận cá nhân hòa vào vận mệnh lịch sử, khoảnh khắc chiến đấu trở thành khoảnh khắc chuyển xoay của cả đất nước.

Chất tráng ca - sử thi của bài thơ còn thể hiện ở tầm vóc không gian rộng lớn, ở cái nhìn bao quát non sông, biển đảo, bầu trời đất nước trong ngày hòa bình.

Bài thơ gây xúc động sâu sắc khi viết về những cuộc đoàn viên sau chiến tranh. Trong khúc ca chiến thắng vẫn có âm hưởng lắng xuống của đời sống con người: “Trăng trên trời rơi xuống buổi đoàn viên/Rơi xuống mái nhà chồng Nam, vợ Bắc”.

Vừa bi hùng vừa lắng sâu trải nghiệm

Sức nặng tư tưởng của bài thơ đặc biệt lắng sâu ở đoạn viết về các thế hệ và cái giá của hòa bình: “Hòa bình về trên mái tóc người cha/ Và tiếng khóc oa oa thơ bé/ Người lửa cháy suốt thời trai trẻ/ Kẻ chào đời tiếng súng đã lặng câm”. Hòa bình đến với cả người đã đi qua chiến tranh lẫn đứa trẻ vừa sinh ra trong ngày không còn tiếng súng. Hai thế hệ đứng cạnh nhau như hai đầu nhịp cầu lịch sử. Người cha đã cháy hết tuổi trẻ cho đất nước; đứa bé sinh ra được hưởng món quà lớn nhất là một bầu trời yên tiếng súng.

Nếu bài thơ là khúc ca chiến thắng thì đồng thời cũng là khúc mặc niệm những người đã ngã xuống. Nguyễn Đức Mậu không để niềm vui chiến thắng che lấp hy sinh: “Vai áo anh còn vết máu bạn bè/ Vai áo tôi khét nồng thuốc đạn/ Xin đặt vòng hoa: thắp nén hương tưởng niệm/ Có khoảng trời xanh dưới đất nâu/ Một vuông đất: kẻ nằm, người đứng/ Nhưng hòa bình từ nay về ta”. Đây là đoạn thơ bi tráng nhất bài. Người sống bước vào ngày vui nhưng vẫn mang trên vai vết máu của đồng đội, vẫn còn nguyên mùi thuốc đạn. Câu thơ “Có khoảng trời xanh dưới đất nâu” vừa đẹp vừa đau khi dưới lớp đất nâu là những con người đã hóa thân vào bầu trời hòa bình.

Nghệ thuật thơ tráng ca – sử thi của Nguyễn Đức Mậu thể hiện rất rõ trong cách xây dựng hình tượng tập thể. Cái “tôi” trữ tình trong bài không tách biệt mà hòa vào “chúng tôi”, vào “sư đoàn tôi”, vào đoàn quân, vào dân tộc. Hình tượng người chiến sĩ không chỉ là một cá nhân cụ thể mà là đại diện cho cả thế hệ cầm súng.

Cao trào sử thi của bài thơ dồn tụ trong những câu: “Không đếm hết dấu chân dừng lại dọc đường/ Thành dòng chữ gọi người đang sống Chúng tôi đi tới ngày toàn thắng/ Cánh tay người lính/ Đã mọc thành cờ/ Trời xanh sáng ngời/ Gương mặt tự do”.

Có thể nói, “Ngày 30/4” của Nguyễn Đức Mậu là một bài thơ hay viết về chiến thắng thống nhất đất nước bởi nó hội tụ nhiều vẻ đẹp: vẻ đẹp của sự thật lịch sử, vẻ đẹp của cảm xúc chân thành, vẻ đẹp của hình tượng người lính, và vẻ đẹp của giọng thơ tráng ca – sử thi.

Bởi vậy, đọc “Ngày 30/4”, ta không chỉ thấy một bản anh hùng ca, mà còn thấy một bản tình ca về con người, về sự sống, về hòa bình được làm nên từ vô vàn gian khổ và hy sinh. Đó là lý do bài thơ vẫn còn sức ngân vang lâu dài trong lòng người đọc hôm nay.

Giờ thì người lính - nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đã đi rất xa nhưng âm hưởng những bài thơ chiến tranh và hoà bình của ông còn vang vọng mãi trong tháng Tư lịch sử này và trong trái tim triệu người yêu nước.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.

Nữ sĩ Phan Thị Thanh Nhàn: Thơ tình thầm lặng tỏa hương

Nữ sĩ Phan Thị Thanh Nhàn: Thơ tình thầm lặng tỏa hương

Trong nền thi ca đương đại Việt, nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn là gương mặt nữ tiêu biểu chiếm được cảm tình đặc biệt của bạn đọc. Thành công nhất ở chị là mảng thơ tình yêu bởi sự đa dạng, tinh tế, đậm một phong cách riêng.