Người Việt Nam đầu tiên trở thành Viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp

Đầu thế kỷ XX có một người Việt là ông Đào Thái Hanh được Viện Hàn lâm của nước Pháp bầu là Viện sĩ danh dự. Ông cũng là người đầu tiên ở nước ta được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm của nước ngoài. Đáng tiếc, trải qua hơn một thế kỷ, những công trình khoa học của ông vẫn chưa được ấn hành trở lại ở trong nước nên tên tuổi của ông gần như bị quên lãng theo thời gian.

Ông Đào Thái Hanh sinh ngày 24 tháng 2 năm 1871 tại làng An Tịch, tổng An Hội, huyện An Xuyên, phủ Tân Thành, tỉnh Sa Đéc (nay thuộc xã An Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp) trong một gia đình quan lại, trí thức Nho học. Ông nội là Đào Văn Quế, làm quan, được phong Hàn lâm viện thuỷ độc học sĩ, cha là Đào Văn Chung được thụ hàm Thái thường tự khanh.

Theo truyền thống gia đình, thuở nhỏ ông học chữ Hán do người cha dạy. Và ông đã được trang bị một nền tảng Hán văn khá vững chắc, giúp ông thuận lợi trong công việc nghiên cứu văn hoá về sau. Nhưng giai đoạn này là thời buổi Nho học đã suy tàn. Người Pháp sau khi chiếm và đặt bộ máy thống trị lên vùng đất Nam Kỳ, đã ra sức xoá bỏ nền giáo dục phong kiến và truyền bá nền giáo dục nước Pháp. Khoa thi Hương cuối cùng ở Nam Kỳ được tổ chức tại An Giang năm 1864. Sau đó nền giáo dục Hán học của chế độ phong kiến cáo chung và được thay thế bằng hệ thống trường học do người Pháp xây dựng.

Trong bối cảnh đó, để có thể bắt nhịp với thời thế mới, gia đình đã tạo điều kiện để ông theo học chữ Quốc ngữ và tiếng Pháp tại trường Pháp - Việt vừa được chính quyền thực dân xây dựng tại tỉnh lỵ Sa Đéc. Vốn tư chất thông minh và tinh thần hiếu học, ông đã tiến bộ rất nhanh và dần dần đi đến chỗ tinh thông Pháp văn và Quốc ngữ.

Ngựa trạm, một minh họa của họa sĩ Phùng Minh trong B.A.V.H.
Ngựa trạm, một minh họa của họa sĩ Phùng Minh trong B.A.V.H.

Năm 1889, ra trường, ông bắt đầu mưu sinh bằng việc giữ chân Chánh thủ bộ cho làng An Tịch, chuyên lo giấy tờ, sổ sách. Hai năm sau (1891), ông tham dự và trúng tuyển trong kỳ thi tuyển công chức của chính quyền thực dân và được bổ nhiệm làm thư ký Sở Thương chánh Sài Gòn. Thời gian sau đó ông được thuyên chuyển xuống các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau làm Thông sự rồi Thư ký. Cuối năm 1894, ông được điều ra miền Trung và bổ nhiệm làm Ký lục Toà sứ tỉnh Bình Định.

Con đường công danh của ông khá hanh thông vì ông là công chức có năng lực, nghiêm túc và mẫn cán. Năm 1902, ông được chọn làm thông dịch cho vua Thành Thái, năm sau được phong Hàn lâm viện Thị giảng và bổ nhiệm chức tri huyện. Năm 1906, ông được thăng tri phủ Cam Lộ (Quảng Trị), một năm sau nữa được đưa về Huế giữ chức Tham biện Cơ mật viện. Năm 1908, ông được bổ làm Thị lang Bộ Lại, đến năm 1911 thăng Tham tri Bộ Lại (tương đương Thứ trưởng Bộ Nội vụ ngày nay)…

 Đào Thế Hanh là công chức trong bộ máy chính quyền thuộc địa, nhưng đồng thời là một nhà nghiên cứu văn hoá, lịch sử có uy tín đương thời. Trong quá trình làm việc và thuyên chuyển qua nhiều địa phương ở Nam Kỳ, Trung Kỳ, ông có điều kiện đi "điền dã", xâm nhập thực tế, ghi chép được nhiều nguồn tư liệu ở hầu hết các lĩnh vực như tín ngưỡng, phong tục, nhân vật, truyền thuyết… Nhờ sự cần cù, tỉ mỉ ghi chép tư liệu và bằng kiến thức uyên bác, sự đam mê của mình, ông đã hoàn thành những bài nghiên cứu về lịch sử, văn hoá có giá trị. Đặc biệt ở mảng văn hoá dân gian, những bài viết của ông được giới học thuật lúc bấy giờ đánh giá là có những khám phá mới lạ, độc đáo và sâu sắc.

Trong thời gian làm việc ở kinh đô Huế, ông Đào Thái Hanh là một trong những người tham gia sáng lập và là hội viên của Hội "Những người bạn Huế xưa" (Association des amis du vieux Hué). Hội này xuất phát từ ý tưởng của một linh mục và học giả người Pháp là Léopold Cadière và được thành lập vào ngày 16 tháng 11 năm 1913. Hội đã cho xuất bản tập san mang tên "Những người bạn cố đô Huế" (Bulletin des Amis du Vieux Hué, viết tắt là B.A.V.H) do Léopold Cadière làm chủ bút (Tổng biên tập), đăng tải những bài nghiên cứu không chỉ về Huế mà cả triều Nguyễn và xứ An Nam thuộc Pháp trên tất cả các lĩnh vực văn hoá, lịch sử, địa lý, kinh tế...

Theo điều lệ của Hội đã quy định, các tác giả khi hoàn thành công trình nghiên cứu của mình đều phải tổ chức buổi trình bày trước tập thể thành viên của Hội, để các thành viên nhận xét, phản biện, góp ý để tác giả bổ sung, chỉnh sửa cho công trình hoàn thiện hơn, sau đó mới được đăng tải trên tập san B.A.V.H. Hầu hết các công trình đăng trên tập san này đều có độ dày cả trăm trang viết, như một cuốn sách thực thụ hoặc một luận án tiến sĩ chuyên ngành.

Tập san B.A.V.H xuất bản mỗi năm 4 kỳ, bắt đầu từ năm 1914 đến năm 1944 thì đình bản, hoạt động được 30 năm.

Trên tờ B.A.V.H. này, ông Đào Thái Hanh đã lần lượt công bố các bài viết của mình như: "Chuyện Thánh mẫu Y-a-na; Thánh mẫu Liễu Hạnh; Chuyện Thánh mẫu Thái dương phu nhân; Sự tích nữ thần; Ngài Phan Thanh Giản - Thượng thư An Nam (1796-1767)" v.v… Qua các chuyến đi xâm nhập thực tế ở các làng quê, ông đã tìm tòi, sưu tầm được những trang gia phả, tư liệu của các dòng họ, gia đình, những văn bia ở các đình chùa, truyền thuyết, giai thoại ở các vùng đất. Những tài liệu quý hiếm đó bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm và được ông xử lý rất tốt. Ngoài ra ông còn đọc, tham khảo, đối chiếu các tác phẩm bằng Hán văn do các tác giả hoặc triều đại ở các thời kỳ lịch sử trước biên soạn lưu truyền. Vì vậy, những bài viết của ông về nhiều vấn đề trên các lĩnh vực đạt đến trình độ chuyên sâu của một chuyên gia, đặc biệt những bài viết của ông về văn hoá dân gian như thần tích, tục thờ cúng, văn bia, câu đối… trên tập san B.A.V.H. rất hấp dẫn, lôi cuốn người đọc.

Những công trình nghiên cứu văn hoá có giá trị, đặc biệt là văn hoá dân gian của Đào Thái Hanh được giới khoa học Pháp đánh giá rất cao. Ông đã được Viện Hàn lâm Pháp bầu chọn làm Viện sĩ danh dự vào năm 1910, khi ông mới 39 tuổi. Như vậy ông bước lên bậc thang tột đỉnh vinh quang trong nghiên cứu khoa học khi tuổi đời còn khá trẻ. Khi đã trở thành một "Viện sĩ" danh tiếng, ông vẫn không ngừng đi thực tế để sưu tầm, nghiên cứu về văn hoá, lịch sử và tiếp tục cho công bố những bài viết có giá trị trên tập san B.A.V.H.

Bìa một tập Đô thành hiếu cổ in năm 1933.
Bìa một tập Đô thành hiếu cổ in năm 1933.

Năm 1915, ông được bổ nhiệm làm Tuần phủ Quảng Trị, hàm tòng nhị phẩm. Ông mất tại nhiệm sở vào ngày 16-1-1916 và được triều đình Huế truy tặng chức Thượng thư Bộ Lễ (Bộ trưởng Bộ Văn hoá), hàm chánh nhị phẩm. Tập san B.A.V.H đã có đăng bài viết đánh giá công lao nghiên cứu và sự gắn bó của ông với tờ tập san văn hoá, lịch sử ở vùng đất đế đô này: "…

Ông Đào Thái Hanh là Viện sĩ danh dự của Viện Hàn lâm Pháp từ năm 1910, là Hội viên của "Hội của những người bạn của Huế xưa" kể từ lúc mới thành lập ông không ngừng hoạt động tuyên truyền để tăng số người gia nhập và do đó để tăng nguồn lực lượng. Nhờ có tài thuyết phục được các vị Thượng thư của vương quốc An Nam quan tâm đến công trình của chúng ta. Ông còn là cộng tác viên cần cù của tập san và chúng ta nhờ vào ông mà có được những bài nghiên cứu hấp dẫn…".

Ngày nay việc sưu tầm, biên soạn và in thành sách các bài nghiên cứu của Đào Thái Hanh có lẽ là một việc làm cần thiết. Qua đó, giới thiệu cho hậu thế biết là vào đầu thế kỷ XX, có một người Việt Nam đã từng là Viện sĩ của Viện Hàn lâm nước Pháp, một nhà khoa học xã hội lẫy lừng.

Văn Thức - Văn Hào

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.