Cố họa sĩ, nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn:

Người vẽ giai điệu bằng màu sắc

Nhiều người biết đến ông với tư cách là tác giả của những bài hát nổi tiếng như “Biết ơn chị Võ Thị Sáu”, “Hà Nội một trái tim hồng”... Nhưng ông còn là một họa sĩ tài hoa. Có thể nói, ông là một trong số ít nhạc sĩ coi vẽ như là nghề nghiệp thứ hai của mình.

Nhân dịp kỷ niệm 90 năm ngày sinh của cố nhạc sĩ, họa sĩ tài hoa, công chúng có cơ hội nhìn lại những bức tranh của ông, vẫn thấy ở đó một tâm hồn đẹp, yêu đời và yêu người.

1. Ở nước ta, có nhiều nhạc sĩ vẽ, nhưng dường như chỉ có ba nhạc sĩ coi vẽ như nghề-nghiệp thứ hai của mình: Văn Cao, Nguyễn Đình Phúc và Nguyễn Đức Toàn. Họ thực sự là những họa sĩ. Với Nguyễn Đức Toàn, ngoài sự nghiệp âm nhạc đồ sộ đã được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, ông còn là một họa sĩ với hơn 10 triển lãm tranh trong và ngoài nước.

Sinh thời, ông từng viết: “Khi náo động nhất, có khi ta bỗng lắng lại để tìm một thi hứng âm nhạc. Và khi ngồi một mình suy ngẫm về thế sự, bỗng nhiên ta lại muốn bộc lộ ta bằng những mảng, khối, đường nét của nghệ thuật tạo hình”.

Trên thực tế, Văn Cao, Nguyễn Đình Phúc, Nguyễn Đức Toàn đều đã tham dự các lớp dự bị hoặc các lớp bàng thính tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương vào những năm 1940-1945. Nguyễn Đức Toàn còn được thừa hưởng dòng máu tạo hình ở người cha - cụ Nguyễn Đức Thục, một nhà điêu khắc nổi tiếng nửa đầu thế kỷ XX.

Cố họa sĩ, nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn.
Cố họa sĩ, nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn.

Nếu Văn Cao, Nguyễn Đình Phúc đã có tác phẩm hội họa từ trước Cách mạng Tháng Tám, thì ngay trong kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Đức Toàn, trẻ hơn nhiều, cũng đã được xem như một họa sĩ.

Theo nhà nghiên cứu mỹ thuật Nguyễn Quang Việt, từ những năm 1980, Nguyễn Đức Toàn hầu như chỉ chuyên tâm vào vẽ, vừa để thỏa lòng say mê, những ước vọng về hội họa ấp ủ đã lâu, mà cũng vừa để “sống” trong thời kỳ bao cấp quá khó khăn của đất nước khi đó. Ông vẽ rất nhiều và vẽ bằng đủ các chất liệu, từ khắc gỗ, bột màu, mực nho, lụa cho đến sơn dầu, sơn mài (vẽ sơn mài thiếu vóc, ông tự làm lấy vóc).

Trong các họa sĩ - nhạc sĩ, ông là người sử dụng nhiều loại chất liệu nhất. Tranh của Nguyễn Đức Toàn là những hình ảnh giản dị quen thuộc với những cấu tứ tưởng như đã quen thuộc lắm, quen tới mức sáo cũ, chẳng hạn: những con đường làng, những gốc đa, những cái cổng; những mảng ruộng, những ngôi nhà, những đống rơm; mái chùa cổ- mặt trăng; hoặc thiếu nữ, hoa, lá, cây...  mang vẻ đẹp dung dị của làng quê Việt Nam, một vẻ đẹp riêng thấm đẫm trong từng nét cọ, từng sắc màu.

Khi được hỏi về lý do cầm cọ, ông tâm sự: “Trước hết tôi vẽ không phải vì bí không làm được bài hát nữa, vả lại cùng một lúc làm nhiều nghề cũng là bình thường, có nghề tay trái, có nghề tay phải, chưa kể có hai chân nữa! Trong nghệ thuật, mỗi ngành là một sân chơi đầy lý thú và các ngành hỗ trợ cho nhau. Tôi vẽ tranh với ý tưởng của họa sĩ chuyên nghiệp, với yêu cầu như một họa sĩ chính cống chứ không xuê xoa, dễ dãi, vin cớ mình là nhạc sĩ mà nhí nhố lăng nhăng vẽ bừa bãi. Tôi vẽ không phải bởi muốn khoe mình có lắm tài, vì nhiều người đã biết tôi, vốn học vẽ ở Trường Mỹ thuật Đông Dương thời Pháp thuộc.

Chỉ có một điều tôi chưa nói ra rằng: Về nhạc tôi đã từng là dũng sĩ đánh Đông dẹp Bắc, làm tốt nhiệm vụ được trao, nên trong hội họa tôi không đủ sức xông pha, đành chỉ vẽ tranh hoa lá cành. Đã nhiều lần tôi thử vẽ đề tài chiến đấu và sản xuất, xây dựng đều không ổn, lại quay về cây đa, giếng nước, chùa làng. Trong hội họa lắm khi nhỏ mà có ý nghĩa về cuộc đời, về nghệ thuật lại lớn, nên tôi yên tâm nhảy múa trên mảnh đất của mình.

Qua nhiều năm tôi vẽ và vẽ, tưởng như đã phụ tình với âm nhạc. Tranh của tôi bán được khá nhiều, có dư luận rằng tranh tôi vẽ chạy theo thị hiếu của khách nước ngoài. Đã nhiều lần tôi tiếp xúc với các khách mua tranh Pháp, Ý, Thụy Điển… đến Hà Nội, tôi hỏi các ông vì lẽ gì mà mua tranh tôi thì họ đều trả lời rằng vì tranh tôi vẽ rất Việt Nam.

Trong nghệ thuật lắm khi chỉ cần một tiêu chí ấy, đã đủ cho mình yên tâm và tiếp tục làm việc. Trong những năm cuối của thế kỷ XX, tôi đã đi và tổ chức triển lãm tranh của tôi ở Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh, tất cả 10 lần”.

2. Nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn sinh năm 1929 tại Hà Nội, trong một gia đình có truyền thống nghệ thuật. Thân sinh ông là nhà điêu khắc, họa sĩ nổi tiếng của Hà Nội - cụ Nguyễn Đức Thục nên từ nhỏ, ông được cha chỉ dạy những kiến thức cơ bản về hội họa dân tộc. Ông lớn lên trong không khí hội họa, anh họ của ông là danh họa Trần Văn Cẩn cũng là người tiếp thêm cảm hứng cho Nguyễn Đức Toàn đến với hội họa.

Ông từng kể rằng, tuổi thơ ông lớn lên trong căn phòng la liệt những bức tranh của cha. Rồi sau này ông được theo học ở Mỹ thuật Đông Dương, ông cứ nghĩ mình sinh ra để làm hội họa. Nhưng âm nhạc đã đến với ông trước cuộc du hành với hội họa. Ông là tác giả của nhiều ca khúc nổi tiếng như “Quê em miền trung du”, “Hà Nội một trái tim hồng”, “Chiều trên bến cảng”, “Biết ơn chị Võ Thị Sáu”…

Ông tâm sự: “Nghệ sĩ luôn luôn trau dồi nghệ thuật, qua nghệ thuật mà góp phần làm sáng danh đất nước, nơi mình đã sinh ra và lớn lên. Nghệ sĩ luôn luôn lấy nghệ thuật làm mục đích, làm niềm vui sống”. Cũng từ quan niệm đó nên Nguyễn Đức Toàn đã sống một cuộc đời sôi nổi, đắm đuối với nghệ thuật.

Kỷ niệm 90 ngày sinh của ông, công chúng yêu hội họa lại có cơ hội được thưởng thức những giai điệu được vẽ bằng màu sắc, một góc tâm hồn sôi nổi và cũng đầy tâm tư của nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn. Những giai điệu gần gụi, ấm áp, không rực rỡ mà tinh tế, ấm áp như tâm hồn ông vậy. Và có lẽ, chính sự gần gụi, giản dị rất Việt Nam đó khiến những tác phẩm của ông còn mãi.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Việt: “Âm nhạc không chỉ tạo cho hội họa Nguyễn Đức Toàn những khoảng cách cần thiết với sự thật, với thực tại, cũng như khoảng cách giữa thực nghiệm và đề tài (hay nói khác đi, âm nhạc đã giúp ông tiếp cận được với “hiện thực nhiệm mầu của họa sĩ”) - mà âm nhạc còn tạo cho ông một năng lực “nghe” hình - màu mà không phải họa sĩ nào cũng có.

Tranh của ông có rất nhiều “giọng” (voix) lạ, đôi khi chỉ khác bình thường một chút là đã đủ trở nên đặc sắc. Ông vẽ phong cảnh, tĩnh vật bằng sơn dầu, bột màu như sáng tác các Cantate, khi một bè, khi nhiều bè, với các tầng nhạc đệm phong phú. Ông vẽ phong cảnh bằng sơn mài, tranh thiếu nữ trên nền lụa như sáng tác các Prélude, với những nốt nhạc du dương, huyền ảo, lắm khi chỉ như bản vẽ phác mà vẫn gây hiệu quả hoàn thiện; vẽ các bố cục trừu tượng hoặc bán trừu tượng, các bố cục ứng tấu (improvisation) tựa như sáng tác các bản Fuga, đầy những mảng màu, đường nét chuyển động “thoát - đuổi” vô cùng linh động...

Vả lại, kỹ năng nghề nghiệp khá vững chắc về hội họa ở Nguyễn Đức Toàn cũng xứng tầm để ông thể hiện tất cả những gì ông muốn.

Tâm hồn Nguyễn Đức Toàn là tâm hồn của một nghệ sĩ yêu nước, yêu quê hương, chiến đấu vì tự do và cái đẹp. Ông cũng rất thích khai thác vốn cổ dân tộc, tìm về quá khứ cha ông, cả trong âm nhạc lẫn hội họa. Cái chất lính trong con người ông có thể “tộc tuệch”, “xuề xòa”, “bất cần” ở ngoài đời, nhưng bao giờ cũng đầy khí phách, tráng kiện trong nghệ thuật.

... Bởi trí tuệ và tài năng quá khiêm tốn, lại trong một môi trường văn hóa còn chưa phát triển, đặc biệt là âm nhạc, thì dẫu rằng có sống trăm tuổi, cũng chỉ có thể là một nhạc sĩ viết ca khúc với một số bài hát được yêu thích. Thế là đủ!”. Về mình, Nguyễn Đức Toàn đã viết như vậy. Nhưng rốt cuộc, ông vẫn là một trong số vô cùng ít những nghệ sĩ đã liên kết được sức mạnh của cả âm nhạc và hội họa. Bên cạnh một Văn Cao họa sĩ “lập thể”, một Nguyễn Đình Phúc họa sĩ “biểu hiện” - Nguyễn Đức Toàn là một họa sĩ “trữ tình” như có cả hai cái đó và... Thế mới là đủ!

Nhạc sĩ, họa sĩ Nguyễn Đức Toàn sinh ngày 10 tháng 3 năm 1929 tại Hà Nội. Bố ông, cụ Nguyễn Đức Thục là một trong số rất ít nhà điêu khắc nổi tiếng ở nước ta những năm đầu thế kỷ XX. Năm 1945, ông gia nhập các đoàn biểu tình, cướp trại Bảo an binh, tham gia mít-tinh ở Quảng trường Nhà hát Lớn Hà Nội. Từ đó tham gia nhiều hoạt động trong kháng chiến chống Pháp và bắt đầu sáng tác ca khúc đầu tiên “Ca ngợi đời sống mới”…

Ông cũng từng được cử đi thực tập hai năm tại Học viện Âm nhạc Kiev (Ucraina, Liên Xô), viết nhiều Prelude, Etude, Fuga… Viết tổ khúc giao hưởng “Tổ quốc” và bản Cantate “Ngọn cờ giải phóng”. Năm 2000, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (cho sáu ca khúc tiêu biểu: “Quê em”, “Biết ơn chị Võ Thị Sáu”, “Đào công sự”, “Nguyễn Viết Xuân cả nước yêu thương”, “Tình em biển cả” và “Chiều trên bến cảng”). Ông mất ngày 7 tháng 10 năm 2016 tại Hà Nội.

Phương Thúy

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.