Từ Tao đàn Chiêu Anh Các
Ngược dòng thời gian về thuở hoang sơ của thế kỷ XVIII, khi vùng đất phương Nam còn là những cánh rừng rậm rạp và đầm lầy hoang vu, họ Mạc - với sự đồng ý của chúa Nguyễn, đã khai phá và đặt những viên gạch đầu tiên cho sự hình thành của trấn Hà Tiên. Nếu như Tổng trấn Mạc Cửu là người mở cõi, có công quy dân lập ấp, biến một vùng đất hoang vu thành thương cảng sầm uất, thì con trai ông, Tổng trấn Mạc Thiên Tích lại là người có công nâng tầm vùng đất ấy lên một tầm cao văn hóa mới. Năm 1736, Tao đàn Chiêu Anh Các chính thức được thành lập, đánh dấu một dấu mốc quan trọng của lịch sử văn học Đàng Trong và tiến trình văn học dân tộc. Sự ra đời của Chiêu Anh Các tại một vùng đất biên viễn xa xôi như Hà Tiên được nhiều nhà nghiên cứu xem như là một hiện tượng văn hóa độc nhất vô nhị. Nơi đây trở thành chốn tụ hội của những bậc thức giả, những tâm hồn đồng điệu từ khắp nơi, không phân biệt gốc gác cùng về đây xướng họa vần thơ. Giữa sóng nước trùng khơi, bên ánh lửa bập bùng và chén rượu nồng, những đêm trăng vịnh thơ trên đầm Đông Hồ đã khai sinh ra nhiều tập thơ có giá trị như “Hà Tiên thập vịnh”, “Hà Tiên thập cảnh khúc vịnh”,...
Chiêu Anh Các không đơn thuần là nơi để những tao nhân mặc khách ngắm hoa thưởng nguyệt. Sâu xa hơn, đó là một lời khẳng định mạnh mẽ về chủ quyền văn hóa tại vùng đất mới. Bằng việc dùng thơ văn để ca ngợi, định danh từng ngọn núi, dòng sông, Mạc Thiên Tích đã biến vùng đất hoang sơ thành một cõi bờ có linh hồn, có bản sắc. Chính hơi thở văn chương hào sảng và sâu lắng ấy đã thẩm thấu vào từng thớ đất, định hình nên một Hà Tiên lãng mạn, thanh tao và giàu lòng mến khách hôm nay.
Đến ký ức đau thương
Thế nhưng, lịch sử của một vùng đất biên thùy chưa bao giờ là một đường thẳng bình yên. Nằm ở vị trí tiền tiêu, là cửa ngõ cả trên đất liền lẫn trên biển, Hà Tiên đã phải gánh chịu biết bao cuộc binh đao, khói lửa. Và có lẽ, chương đau thương, nhức nhối nhất trong cuốn biên niên sử của vùng đất này chính là những ngày tháng đen tối của cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam.
Ngày 8/6/1977, Khmer Đỏ mở cuộc tấn công quy mô lớn vào thị trấn Hà Tiên và một tuần sau đó, chúng mở cuộc tấn công lớn trên toàn tuyến biên giới dài 52km. Đêm 13 rạng 14/3/1978, địch pháo kích dữ dội vào thị trấn Hà Tiên, đồng thời đưa quân bằng đường biển vào Xóm Eo, Mũi Nai đánh Giếng Tượng. Trên bộ, địch tiến vào núi Đá Dựng, thảm sát 130 đồng bào vô tội quanh chân núi Thạch Động. Đó là một đêm kinh hoàng mà lịch sử không bao giờ quên. Những kẻ thủ ác đã ra tay sát hại dã man từ người già, phụ nữ đến trẻ em. 130 cuộc đời đang tràn trề hy vọng đã nằm xuống trong đau đớn, máu của họ đã thấm đẫm vào lòng đất mẹ Hà Tiên. Và khi đứng trước “Bia căm thù” được dựng trước cửa di tích Thạch Động thì tôi, một lữ khách ghé qua đây cũng thấy ngậm ngùi xót thương những con người đã ngã xuống trên mảnh đất này.
Nhưng chính trong những ngày tháng lầm than ấy, tinh thần kiên cường, bất khuất của người dân xứ thơ lại một lần nữa ngời sáng. Quân và dân Hà Tiên đã biến đau thương thành hành động, tựa lưng vào núi đá, hướng mặt ra biển lớn, kiên cường bám trụ từng tấc đất. Những con người vốn gắn bó với biển cả, ruộng đồng và nghề buôn bán... hay chỉ quen cầm bút vịnh thơ, quen chèo ghe thả lưới lại cầm chắc tay súng để bảo vệ bờ cõi. Sự hy sinh của 130 đồng bào vô tội đã trở thành một biểu tượng của lòng yêu nước, một lời nhắc nhở đanh thép về cái giá của hòa bình và chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.
Chiến tranh rồi cũng lùi xa vào quá khứ, những hố bom, vệt máu năm xưa giờ đây đã được khỏa lấp bằng màu xanh của sự sống. Trỗi dậy từ đống tro tàn đổ nát của chiến tranh, bằng nền tảng của một vùng đất văn hiến lâu đời và tinh thần quật khởi, Hà Tiên hôm nay đang tự tin khoác lên mình tấm áo mới, vươn mình trở thành một đô thị cửa ngõ hiện đại, trẻ trung và đầy năng lượng nơi cực Tây Nam của Tổ quốc.
Sự thay đổi của Hà Tiên có thể nhìn thấy rõ rệt qua từng ngày. Từ một vùng biên giới nhỏ bé, heo hút, sau đợt sắp xếp đơn vị hành chính, Hà Tiên đã chính thức trở thành đô thị trực thuộc tỉnh An Giang, mở ra một chương mới cho sự phát triển toàn diện. Những con đường đất lầy lội năm xưa giờ đã được thay thế bằng đường nhựa thênh thang. Các dự án như khu đô thị mới lấn biển, đường vượt biển ra cảng tổng hợp Hà Tiên làm thay đổi hoàn toàn diện mạo. Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Hà Tiên rộng 1.600 ha đã trở thành một đầu mối giao thương vô cùng quan trọng. Tàu xe ngược xuôi, hàng hóa từ Việt Nam tỏa đi các nước tiểu vùng sông Mê Kông và ngược lại. Hà Tiên không còn là điểm cuối của một hành trình, mà đã trở thành cửa ngõ mở ra thế giới, trung tâm kết nối hành lang kinh tế ven biển phía Nam.
Mười cảnh đẹp trong “Hà Tiên thập vịnh” năm xưa không chỉ nằm trên những trang sách cổ, mà đã được đánh thức, đầu tư bài bản để trở thành những địa điểm du lịch hấp dẫn như Mũi Nai, Thạch Động, núi Đá Dựng, đầm Đông Hồ,... Và khi hoàng hôn buông xuống, Hà Tiên lại khoác lên mình vẻ đẹp lung linh, huyền ảo. Dòng Giang Thành thơ mộng năm xưa nay được tô điểm bởi những cây cầu hiện đại lấp lánh ánh đèn.
Tôi chọn cho mình một chiếc xe lôi đạp để dạo quanh Hà Tiên. Anh tài xế tên Thái, bằng cái giọng chất phác của người miền Tây Nam bộ đóng vai trò như một hướng dẫn viên du lịch yêu quê hương, yêu tha thiết mảnh đất mình đang sống để giới thiệu cho tôi những nét đặc trưng nơi xứ biển biên thùy. Từ khu chợ đêm Hà Tiên rộn rã tiếng cười đến những công trình văn hóa tâm linh: đền thờ họ Mạc, chùa Tam Bảo, chùa Năm Ông,... rồi món bún kèn có nguồn gốc từ người Khmer. Sự giao thoa văn hóa ba dân tộc Kinh, Hoa, Khmer tiếp tục được gìn giữ và phát huy, tạo nên một nét dung hòa độc đáo.
Hà Tiên hôm nay là bản giao hưởng giữa cái xưa cũ trầm mặc và cái tân thời náo nhiệt. Đi qua những vần thơ Chiêu Anh Các lãng mạn, bước qua khúc quanh của lịch sử với nỗi đau 130 đồng bào ngã xuống, Hà Tiên đã tôi luyện một bản lĩnh sắt đá để bay cao. Đứng ở cột mốc biên giới 314 nơi cực Tây Nam, lắng nghe tiếng sóng biển rì rào vỗ vào ghềnh đá hòa cùng tiếng còi tàu vang vọng ngoài xa, tôi như cảm nhận rõ nhịp đập kiêu hãnh của một đô thị biển biên thùy. Hà Tiên đang viết tiếp những trang sử mới, trang sử của sự thịnh vượng, hiện đại nhưng vững chãi, xứng đáng là phên dậu tiền tiêu, là niềm tự hào của Tổ quốc…