Người thơ, kịch sĩ "Tử vì đạo"

Lê Đại Thanh sinh năm 1907 tại Hải Phòng. Năm 1927 - 1932, ông học Trường Bưởi, Hà Nội, ngồi cùng bàn với Nguyễn Gia Trí (sau này trở thành danh họa). 

Lê Đại Thanh học xong thì đi làm thầy dạy học ở Nam Định, Hòa Bình, Cao Bằng, Hải Phòng (từ 1932 đến tháng 8/1945), đồng thời tham gia viết báo, đăng nhiều trên các báo, tạp chí Đông Tây, Ngày nay, Chuyện đời, và diễn kịch ở Hà Nội, Hải Phòng (1936-1945). Từ đầu những năm 40 của thế kỷ trước, ông tham gia Việt Minh và nhiều phong trào hoạt động ủng hộ Cách mạng, do đó bị chính quyền Nhật bắt giam 3 tháng.

 Ông tham gia khởi nghĩa Tháng Tám 1945, tham gia kháng chiến chống Pháp ở Liên khu III, từng là Phó Giám đốc Sở Tuyên truyền Liên khu III, rồi chuyển sang hoạt động trong Hội Văn hóa Cứu quốc. Sau hòa bình, làm biên tập tuần báo Văn nghệ rồi trở về sống và viết tại Hải Phòng cho đến khi qua đời.   

Trong suốt cuộc đời đầy sóng gió, tương truyền thời còn dạy học,  thầy giáo trẻ Lê Đại Thanh thường hay “vượt rào” giáo án - để giảng cho các trò về lòng yêu nước được bộc lộ và thể hiện trong các bài lịch sử và văn học. Yếu tố cách mạng rất tự nhiên có ở trong con người ông, do đó hệ thống giáo dục của người Pháp không thích “anh giáo” này. Ông luôn bị chuyển trường, từ Kiến An, Nam Định, Hải Phòng…lên cả Nước Hai, Cao Bằng (Tướng Bằng Giang là  học trò của thầy Thanh ở đây); và người Pháp từng có ý định bắt ông giáo Thanh đến mấy lần, nhưng do có học trò báo nên ông “thoát” được.

Nhà văn Bùi Ngọc Tấn trong kịch bản phim tài liệu "Một ông già sống cho đến khi chết", đã dành cho Lê Đại Thanh phẩm chất bất dịch của một người Hải Phòng, sống ở đó nhiều nhất, gian truân ở đó nhất, và khi chết được chôn ở thành phố hoa phượng đỏ. “Tôi bước vào đời đã ngả theo Cách mạng/ Như hoa hướng dương quay theo ánh mặt trời/ Đảng là đại dương/ Tôi là con cá hồng bơi/ Đảng là núi/ Tôi là con chim ngực đỏ” (Di chúc). Vậy là con đường đời đã rất sớm được thầy giáo Lê Đại Thanh lựa chọn để theo. Nó dẫn tới việc ông là thành viên của Ủy ban Kháng chiến lâm thời Hải Phòng, đại diện cho giới trí thức cách mạng.

Trong bức ảnh hiện được lưu giữ ở Bảo tàng cách mạng Hải Phòng - ông  mặc đồ trắng, đứng bên Trung tướng Nguyễn Bình. Trong sự “nháo nhác” chính trị năm 1946 - ông bị Quốc dân đảng bắt. Phía ta đã tổ chức biểu tình đòi thả Lê Đại Thanh, và ông được cứu ra (do ông Lê Quang Đạo, Bí thư Thành ủy Hải Phòng năm đó chỉ đạo cuộc biểu tình).

Rồi kháng chiến 9 năm, Lê Đại Thanh nhập ngũ ở Trung đoàn 42 để làm Tuyên huấn, vào Thanh Hóa làm Văn hóa, Văn nghệ kháng chiến. “Chương Dương hành khúc” là tác phẩm ghi dấu ấn sâu đậm ở giai  đoạn này, khi ông đứng ở một mỏm đồi, trong ánh đuốc đọc cho bộ đội nghe trước giờ ra trận: “Nam nhi! Nam nhi! Tuốt gươm đứng dậy cao lời thề/ Máu đào phụng nguyện thờ sông núi/ Ngửa mặt nhìn trời ta cùng đi”...

Sau 9 năm kháng chiến, ngày 10 – 10 - 1954, Lê Đại Thanh cùng anh em văn nghệ sĩ trở về Hà Nội, làm báo đến 1957 thì trở lại quê hương Hải Phòng, đi lao động ở mỏ than Quảng Ninh, nhà máy điện Cửa Cấm… kể cả làm nhiều thứ linh tinh để “cải tạo tư tưởng”. Đây là giai đoạn khó khăn nhất cuộc đời ông, khi rơi vào cô đơn, luôn tìm đến với mọi người ở mọi nơi, mọi lúc để được “quây quần”, được “chữa” bài cho các nhà thơ ban đầu còn vụng dại. Vào năm 1965, Lê Đại Thanh đã làm bài thơ "Di chúc" - viết cho cái chết của mình trước 31 năm - với những lời rút ruột để khái quát tất cả triết lý nhân sinh, quan niệm về con người và thơ ca trong cõi đời sống chết: “Nếu tôi chết, những người thân đừng nhỏ lệ/ Mà ngâm với tôi một đoạn ngắn thơ tôi”…

Nhiều người thuộc thơ Lê Đại Thanh với các bài nổi tiếng như "Đám cưới Chuột đỏ xanh", "Ngây thơ", "Anh bộ đội và sông Mã", "Mẹ tôi", "Những trò chơi bao ngày tấm bé", "Cà phê", "Bài ca Con người", "Tâm sự cùng Nhân loại", "Gốc đào xưa vẫn chờ tôi", "Sư tử và mặt trời", "Mâu thuẫn", "Thi sĩ và thơ"…bởi trong những chiều sâu suy ngẫm đó, Lê Đại Thanh được tự do cô đơn, khúc chiết suy luận, độc thoại, và  tự bạch về mình là chính.

Tại Hải Phòng, Lê Đại Thanh được gọi là “Cuốn Từ điển sống”, do kiến thức uyên bác và cung cách sống chan hòa, kể cả “cứu nhân độ thế” khi có thể. Vì thế, số nhà 88 Cầu Đất luôn là nơi anh em văn nghệ tìm đến uống trà loại rẻ nhất, nghe thơ mà tác giả viết trên lề báo, trên vỏ bao thuốc lá bằng cả bút chấm mực của trẻ thơ. Và bất chợt là đi.

Ông đi bộ thăm một ai đó xa chục cây số, đi với dáng cao gầy, đổ xuống bóng người, đi với một cái túi cà tàng bản thảo, có chút trà, đường, cà phê loại giá rẻ… để đàm đạo văn thơ nhạc họa cùng các bạn hữu. Không chỉ đi bộ, Lê ĐạiThanh còn luôn xê dịch bằng cái xe đạp tòng tọc của con gái Lê Mai mất đến gần hai ngày mới tới Hà Nội; rồi lại được xe tải chở đá rải đường cho ngồi lên vì thấy “ông cụ tóc dài” đang dựa vào cột mốc cây số đường 5 để nghỉ và…làm thơ. Thi nhân “đổ bộ” mỗi nơi vài ngày, thấy “đủ” rồi lại đi, có khi như vô định, gặp lại học trò xưa “đón thầy” đi luôn dăm bữa nửa tháng.

Quanh quanh “người thơ” Lê Đại Thanh còn có vô vàn giai thoại: Ông ít khi có ba bộ quần áo, vì nếu có - lại cho ai đó cần hơn; quần áo có thể nhàu và lấm lem, giày có thể bùn đất, nhưng chiếc mũ phớt và chiếc cà-vạt thì bao giờ cũng sạch đẹp và chỉn chu. Dáng điệu như vậy, mới tờ mờ sáng đã đến khu nhà của người bạn đồng cảnh Chu Ngọc. Cầm cái ô đen ngày mưa vào nhà một người bạn vong niên, đến lúc ra về lại đưa tay cầm nhầm cái chảo mỡ một cách tự tin cùng với lời chào “bố đi nhé”…

Thời gian Lê Đại Thanh lui về Hải Phòng - mảnh đất nóng của nhiều tài năng, tính cách lớn,  ruột thịt và nhiều người hiểu mình, chia sẻ đỡ đần ông về tâm lý. Cũng lại bị khó khăn một phần, khi ông nghỉ hưu với mức lương thật thấp. Tuy nhiên, trong giới văn nghệ cũng như người dân quen biết ở đất Cảng, không bao giờ thấy nhà giáo, nhà thơ, kịch sĩ, anh bộ đội Lê Đại Thanh than vãn cho cá nhân mình. Ông như “đi ngang” qua cuộc đời này, xong ngần ấy việc, buồn vui ngần ấy độ, không tính toán thiệt hơn, rồi ra đi thanh thản theo lẽ sống của đời mình, và thi nhân tự nhận: “Mình - là con của Nữ thần mặt trời - Người  đi tìm Chân lý”…

Năm 1987, lần đầu tiên Hải Phòng in tập thơ Lê Đại Thanh "Những ngôi sao biển", cùng một đêm đọc thơ ông và nói về cuộc đời của ông. Nhiều anh em văn nghệ Hải Phòng là các nhà thơ, nhà văn, họa sĩ, nhà giáo nhiều thế hệ…đã đọc tặng Lê Đại Thanh những câu thơ tình nghĩa đến nao lòng. Bởi Lê Đại Thanh là một con người thủy chung, đầy bản lĩnh và đầy tính cách Hải Phòng không lẫn được vào đâu. Ông đã sống hết mình và sáng tạo hết mình trong cả một cuộc đời gần suốt một thế kỷ. Ông cũng đã đến và đi khỏi cuộc đời thật nhẹ tênh ở phần Tâm của mình, dù hành trình đó có lúc gập ghềnh, nan giải, sóng gió; nhưng ông quyết không “đổi hướng” theo Định Số của mình. Lê Đại Thanh như một người “tử vì Đạo” - và bến Đạo cao cả đó chính là Thơ ca.

  Chợt nhớ vào cuối những năm 60 của thế kỷ trước, tôi mới ngoài hai mươi tuổi. Có những buổi trưa ngồi “gẫu chuyện” với nhà thơ Lê Đạt tại tư gia của ông - số 9 phố Lãn Ông, Hà Nội, tôi đã gặp nhà thơ Lê Đại Thanh vừa chân ướt chân ráo từ Hải Phòng lên, bằng ôtô hàng “Bến Nứa” (một bến xe nổi tiếng khốn khổ ở đầu cầu Long Biên từ thời bao cấp, mà người Hà Nội nào cũng biết).

Nói đi nói lại toàn là chuyện văn thơ, chuyện nghệ thuật, chuyện đời…tôi hiểu ông, yêu ông, trọng ông từ đó. Và cho dù đã trên 50 năm trôi qua kể từ ngày ấy, thì lời tâm sự của ông cho đến nay vẫn hằn sâu trong trí nhớ của tôi: “Trong làng văn nghệ, không bao giờ sóng sau đè sóng trước, mà chỉ có các lớp sóng tiếp nối nhau, bồi đắp phù sa cho nhau; các thế hệ nâng niu nhau, tôn vinh nhau, quý trọng nhau để cùng làm nên cái đẹp cho mình và cho đời”…

Đến đây, cũng cần mở một ngoặc nhỏ, là trong “đại gia đình” thi sĩ, kịch sĩ Lê Đại Thanh có nhiều con cháu hoạt động trong giới nghệ thuật, mà tiêu biểu là NSƯT Lê Mai – thân mẫu của ba nữ nghệ sĩ nổi tiếng là NSƯT Lê Vân, NSND Lê Khanh, NSƯT Lê Vi; cùng hai em ruột của bà là họa sĩ Lê Đại Chúc và NSƯT, đạo diễn Lê Chức (hiện là Phó Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam)…

Nói đến Hải Phòng là nói đến một thế hệ các văn nghệ sĩ tên tuổi, bản lĩnh, tài năng, cống hiến, của suốt chiều dài Thế kỷ XX như Văn Cao, Nguyên Hồng, Thế Lữ, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng, Tô Vũ, Lan Sơn, Hoàng Quý, Hoàng Công Khanh… đã làm nên một góc tượng đài tiêu biểu cho Hải Phòng. Bên cạnh đó, các địa danh rất “ngư  phủ” như ngõ Cụt, Sông Cấm, sông Lấp, Tam Bạc, Cầu Rào, Cầu Đất, Sông Niệm, ngõ Sỏi, vườn hoa Đưa người… đã làm nên một vóc dáng Hải Phòng độc đáo, trong nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật còn mãi đến hôm nay, mà trong đó, có sự dâng hiến của “Người Thơ, Kịch sĩ”  Lê Đại Thanh.

Cách đây 6 năm, tháng 8/2012, tên của ông đã được đặt cho một đường phố tại phường Lâm Hà, quận Kiến An, Hải Phòng.

Lê Huy Quang

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.