Người thầy kỳ lạ

Buổi sáng mùa xuân năm ấy, tôi đang ngồi trong quán café ở phố Thiền Quang thì thấy một cụ già chống chiếc ba toong, chậm rãi bước vào. Thầy Song! Tôi thầm thốt lên. Thầy Song là người đã dạy tôi học vẽ trong lớp hội họa do thầy tổ chức.  

Tôi vội chạy ra, đỡ thầy vào. Sau khi hỏi thăm sức khỏe của thầy, tôi hỏi tiếp:

- Thầy uống café để con gọi ạ?

- Không, anh cho tôi ly ca cao.

Tôi ngạc nhiên. Thầy Song là người nghiền café nặng lắm. Nghiền đến mức sáng nào thầy cũng phải làm một ly rồi mới bắt đầu cho một ngày làm việc mới. Sau đó, thầy còn dùng tiếp tới hai ba lần café như thế nữa trong mỗi ngày mới đủ. Vậy mà hôm nay thầy lại không dùng café thì quả thật rất lạ.

- Sao hôm nay thầy không dùng café mà lại dùng ca cao ạ? - Tôi hỏi.

Thầy chậm rãi:

- Ừ, dạo này uống café không còn thấy ngon như trước nữa. Nhớ quán thì ra thôi…

Tôi thấy giọng nói của thầy có vẻ hơi nghẹn ngào. Tôi buột miệng:

- Thầy già rồi, uống nhiều café sẽ không tốt cho sức khỏe đâu thầy ạ.

Thầy chau mày, nện đế có bịt sắt của chiếc ba toong đang cầm trên tay xuống nền nhà đánh cốp, nói:

- Tôi thế này mà anh bảo tôi đã già à!

Tranh tự họa của thầy Phạm Viết Song.
Tranh tự họa của thầy Phạm Viết Song.

Đối với thầy, một tâm hồn nghệ sĩ không bao giờ được phép già. Và thầy vẫn thường nói, nếu để cho tâm hồn già nua thì coi như đã tự gác bút, còn làm nghệ thuật sao được nữa. Vậy là tôi đã vô tình xúc phạm thầy rất nặng nề. Tôi hoảng quá, xin lỗi thầy rồi gọi chủ quán cho ly ca cao, mời thầy.

Thầy Phạm Viết Song sinh ngày 2-1-1917 tại Thanh Hóa. Thực ra, quê gốc của thầy ở thành phố Nam Định, nhưng do các cụ thân sinh lưu lạc trên đường đời tìm kế mưu sinh nên thầy đã được sinh ra ở xứ người.

Năm 1935, khi vừa tròn mười tám tuổi, thầy theo học tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, Hà Nội, khóa học 1935 - 1939. Trước Cách mạng Tháng Tám, thầy tham gia hoạt động cách mạng tại Huế. Khi Cách mạng Tháng Tám bùng nổ, thầy được tổ chức phân công làm công tác bảo tồn các di tích văn hóa ở Huế và thầy đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Trở lại với câu chuyện về sự nghiệp hội họa của thầy Phạm Viết Song. Có lẽ trong lịch sử ngành Mỹ thuật Việt Nam, họa sĩ Phạm Viết Song là một con người rất đặc biệt. Không là giáo sư, nhưng thầy nổi tiếng không kém  bất cứ một giáo sư nào trong ngành hội họa. Không một họa sĩ nào trong làng Mỹ thuật Việt Nam là không biết đến tên tuổi của thầy. Không là Nhà giáo Nhân dân, nhưng thầy được nhiều thế hệ học trò tôn kính không kém gì những người được phong danh hiệu Nhà giáo Nhân dân. 

Và điều đặc biệt hơn cả, tuy thầy là thế hệ sinh viên của Trường Mỹ thuật Đông Dương, lại có quá trình tham gia hoạt động Cách mạng từ trước khi Cách mạng Tháng Tám thành công, vậy mà sau đó, kể từ ngày hòa bình được lập lại ở miền Bắc, thầy chỉ hoạt động tự do trong ngành Mỹ thuật, không là công chức, không biên chế, không hưởng lương trong bất kỳ một cơ quan, tổ chức nào của nhà nước. 

Cuộc đời của thầy, sống, làm việc, và cống hiến cho nghệ thuật là ước mơ, là nỗi niềm khao khát cháy bỏng. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Sở Văn hóa - Thông tin Hà Nội mở lớp đào tạo họa sĩ cho cán bộ công nhân viên chức hệ quần chúng tại phố Hàng Buồm, thầy được cử ra thành lập và sau đó là hiệu trưởng của trường. 

Vẫn không biên chế, không lương bổng. Thầy đã khước từ tất cả những danh lợi đáng lẽ đã thuộc về thầy. Vậy mà thầy đã làm bằng hết khả năng tâm huyết của mình cho sự nghiệp “trồng người”. Theo thầy, đào tạo cho thế hệ trẻ là nhiệm vụ quan trọng tối thượng của những lớp người đi trước. Sau đó, lớp học này được nâng lên thành hệ trung cấp, rồi cao đẳng, đã đào tạo cho Thủ đô hàng ngàn họa sĩ phục vụ cho công tác tuyên truyền trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. 

Nhiều năm sau, do tình hình chiến sự ở Hà Nội ngày càng trở nên phức tạp, trường học này không thể đi sơ tán vì học sinh đều xuất thân từ các đơn vị, cơ quan đoàn thể của nhà nước đóng trên địa bàn Hà Nội, phải bám sát vị trí chiến đấu và sản xuất, nên đã phải đóng cửa. Với bản chất là một nhà giáo, lại rất yêu nghề “trồng người”, thầy Phạm Viết Song đã nhất quyết không chịu từ bỏ sự nghiệp. 

Thầy về nhà, mở lớp tiếp tục dạy. Ngôi biệt thự của gia đình thầy ở số 13 phố Thiền Quang đã trở thành một trung tâm đào tạo không biết bao nhiêu thế hệ học trò. Trong quá trình đào tạo các thế hệ học sinh, thầy luôn là một người hết lòng hết dạ yêu thương học trò và hết sức tận tụy đối với công việc giảng dạy của mình. Có rất nhiều học sinh nghèo khó, nhưng đam mê hội họa, thầy đã động viên cố gắng và không thu tiền học phí của những đối tượng này. Cho đến nay, nhiều học trò của thầy đã thành danh trong lĩnh vực hội họa, thậm chí còn hết sức nổi tiếng trong ngành Mỹ thuật Việt Nam.

Trong những ngày tôi theo học lớp của thầy, tôi nhớ mãi một câu thầy luôn căn dặn mọi thế hệ học sinh: “Các anh, các chị, đừng bao giờ ngồi đợi cảm xúc đến, cứ làm việc, rồi cảm xúc ắt sẽ đến!”. Sau này, tôi mới thấy rất thấm thía câu nói ấy của thầy. Có không ít lần, trước khi chuẩn bị làm việc, tôi đã bị cơn lười biếng lấn lướt. Nhưng nhớ lại câu nói của thầy dạo ấy, tôi lại quyết tâm cầm cọ, vẽ, và quả nhiên cảm xúc đã đến không biết từ lúc nào khiến tôi say mê đến nỗi quên cả giờ giấc, thậm chí quên cả bữa ăn...

Cũng trong thời gian theo học, tôi còn nhớ, có một lần, thầy Phạm Viết Song cho cả lớp chuẩn bị đi vẽ trực họa. Vẽ trực họa là công việc đi vẽ thực tế phong cảnh bên ngoài của các họa sĩ. Thầy giao cho tôi nhiệm vụ đi tìm nơi phù hợp để vẽ. Tôi rất thích công viên hồ Ba mẫu nằm trên đường Lê Duẩn. Ở đó, nước hồ luôn biếc xanh, lại có nhiều cây cối. Cây cối ở công viên hồ Ba Mẫu đẹp lạ thường, lá cây xanh thẫm một màu đã gợi nên cho tôi rất nhiều cảm xúc, rất muốn vẽ thành một bức tranh thật đẹp…

Tác phẩm “Bà Má Núi Thành” của họa sĩ Phạm Viết Song.
Tác phẩm “Bà Má Núi Thành” của họa sĩ Phạm Viết Song.

Tôi ra công viên hồ Ba mẫu ngắm nghía hồi lâu rồi về thưa với Thầy. Ở Hà nội thì có chỗ nào là Thầy không biết chứ nói gì đến công viên hồ Ba mẫu, cách nhà thầy chỉ chưa đầy một cây số. Thầy gật đầu, bảo:

- Tôi muốn xem thử chỗ ấy có vẽ được không, đỡ mất công mang đồ đi rồi lại về không.

Sau này, tôi mới hiểu ra rằng, thầy biết ở công viên hồ Ba mẫu chẳng có gì để vẽ cả. Nhưng đó là một cơ hội rất tốt để thầy chỉ bảo cho tôi biết phương pháp chọn một cảnh để vẽ cần phải như thế nào. Tôi thuê một chiếc xe con đưa thầy đến. Thầy nhìn lướt qua rồi lắc đầu, quay lại nói với tôi:

- Như thế này thì vẽ vời gì.

Rồi thầy bắt đầu giảng cho tôi rất chi tiết cách tìm phong cảnh để vẽ trực họa. Muốn có một không gian để vẽ trực họa tốt, cần có mấy yếu tố căn bản: Cảnh trí, màu sắc. Cảnh trí phải có tầng, có lớp, có xa có gần. Màu sắc phải phong phú, có hương có nhụy…

Tôi cảm ơn thầy rồi hai thầy trò lên xe về nhà. Ngay sau đó, tôi lại xin phép thầy đi tìm nơi khác. Sáng hôm sau, tôi đến sớm đón thầy và cả lớp đưa đến địa điểm đã tìm được. Thầy rất ưng ý. Đó là lần đầu tiên tôi đi vẽ trực họa. Và cũng lần đầu tiên, tôi đã hoàn thành một bức tranh bằng chất liệu sơn dầu, được thầy cho tám điểm với một lời phê rất ngắn gọn: Tốt!

Hết năm học, tôi xin phép thầy cho nghỉ. Thầy trầm ngâm một lát rồi gật đầu. Hôm chia tay với tôi, thầy đã ân cần căn dặn tôi rất nhiều điều. Nhưng có một câu nói đã khiến tôi luôn ghi lòng tạc dạ, đó là: “Người nghệ sĩ phải hết sức trung thực với chính bản thân mình trong cảm xúc!”. Sau này, khi đã trở thành một người nghệ sĩ, tôi mới hiểu hết được hàm ý câu nói của thầy. Nếu người nghệ sĩ để cảm xúc lừa phỉnh chính bản thân mình thì mọi tác phẩm của anh sẽ không bao giờ trong sáng được!

Trở về nhà, tôi tiếp tục miệt mài với công việc màu sắc, cọ vẽ và bảng pha màu. Những câu nói bất hủ học được từ thầy đã giúp tôi rất nhiều điều. Nhưng quan trọng hơn cả vẫn là việc rèn luyện ý chí của mình trong lao động và từng bước đi trên đường đời. Tôi trở thành họa sĩ, và sau này còn thành danh tiếp trên con đường văn chương. Nhưng ở môi trường nào cũng vậy, tôi vẫn mãi mãi không bao giờ quên được ký ức về một người thầy, một tấm gương sáng chói, một mùa xuân vĩnh cửu, một họa sĩ tài ba đã cống hiến cả cuộc đời mình cho nghệ thuật hội họa: Thầy Phạm Viết Song!

Thế Đức

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.