Người phụ nữ đã “tạo nên” Vladimir Nabokov

Câu châm ngôn "Đứng sau nhiều người đàn ông tuyệt vời thường là những người phụ nữ không kém phần tuyệt vời" không thể nào phù hợp hơn với trường hợp bà Vera, vợ của nhà văn Nga Vladimir Nabokov.

Bà đã dành 52 năm của cuộc đời mình cho Vladimir Nabokov, đã làm tất cả để thiên tài văn học trở nên nổi tiếng khắp thế giới. Thi hài bà yên nghỉ dưới một phiến đá với dòng chữ: "Người vợ, nàng thơ và trợ lý văn học". Nhân kỷ niệm 120 năm Ngày sinh của nhà văn Nga vĩ đại Vladimir Nabokov (22/4/1899-22/4/2019), chúng tôi xin trân trọng giới thiệu vài nét về cuộc đời người phụ nữ bí ẩn này.

Trong suốt 10 năm, từ 1948 đến 1959, Giáo sư Vladimir Nabokov, người Nga, trở nên cực kỳ nổi tiếng ở Đại học Cornell, Hoa Kỳ. Khác với những giảng viên khác, Nabokov thích phê phán các thiên tài trước sinh viên, ví dụ, ông khẳng định rằng "Anh em Karamazov" là một tiểu thuyết rất tệ, hoặc Cervantes không hiểu biết bối cảnh thời đại trong đó diễn ra câu chuyện "Don Quijote". Có thể, những nhận xét gần như mang tính scandal đó đã khiến ông trở nên hấp dẫn trong con mắt của các sinh viên trẻ.

Tuy nhiên, điều khiến mọi người xì xào bàn tán nhiều nhất về Nabokov là ông không bao giờ đến lớp một mình. Ngồi sau tay lái chiếc "Oldsmobile" chở ông tới trường bao giờ cũng là một phụ nữ tóc bạc phơ. Sau khi đỗ xe, bà đưa tay cho Giáo sư khoác và dẫn ông vào giảng đường. Đôi khi bà ngồi đâu đó ở hàng ghế thứ nhất hoặc trên bục giảng, bên trái Nabokov. Suốt cả giờ giảng, người đàn bà bí ẩn ngồi im lặng.

Một số người nghĩ rằng thực chất bà là mẹ, chứ không phải vợ của giáo sư

Có người nói rằng, bà giống như là vệ sĩ của ông và trong túi xách của bà có một khẩu súng lục để phòng xa, lại có người nói bà là chướng ngại vật để các cô sinh viên trẻ không tiến lại quá gần Giáo sư. Đôi khi bà hỏi thi, và một lần thậm chí bà đã giảng bài thay Nabokov.

Tuy nhiên, thực tế đơn giản hơn nhiều và đồng thời cũng phức tạp hơn nhiều. Vera Slonim, tên thời thiếu nữ của bà, là một phụ nữ phi thường. Bà sinh năm 1902 ở Petersburg, trong một gia đình trí thức Do Thái giàu có.

Bà Vera và chồng -nhà văn Nga Vladimir Nabokov.
Bà Vera và chồng -nhà văn Nga Vladimir Nabokov.

Năm 1920, khi chính quyền Xô viết được thiết lập ở nước Nga, gia đình Vera đã rời bỏ đất nước. Sau khi đi qua rất nhiều nước ở châu Âu, gia đình bà quyết định dừng chân ở Berlin dưới thời đại cộng hòa Weimar. Ở đấy, tại thủ đô của nước Đức, Vera gặp Vladimir Nabokov, chàng trai xuất thân từ một gia đình Nga giàu có. Khác với nhiều người lưu vong khác, gia đình Nabokov không ủng hộ chế độ quân chủ chuyên chế, mà bảo vệ tư tưởng cải cách hòa bình có thể hiện đại hóa nước Nga về mặt xã hội và chính trị. Một người trong dòng họ Nabokov thậm chí đã tham gia Chính phủ dân chủ lâm thời xuất hiện sau cuộc cách mạng tháng hai năm 1917.

Ngay lập tức Nabokov chinh phục trái tim Vera

Ngay từ đầu, Vera tin rằng ông là một nhà văn thiên tài, vì vậy cần phải bằng mọi giá giúp ông thể hiện tài năng tiềm ẩn này với thế giới. Vera tốt nghiệp Đại học Sorbonne, chuyên ngành ngôn ngữ hiện đại, là một sinh viên xuất sắc, nhiều triển vọng. Nhưng không một chút do dự, bà đã bỏ chuyên môn của mình để giúp đỡ chồng, người lúc bấy giờ đã viết một thứ văn xuôi mà bà định nghĩa là "nóng bỏng và tươi sáng".

Và trong những năm sau đó, bà cẩn thận đánh máy lại, cắt dán, trau chuốt và gìn giữ những trang viết của chồng. Bà tin rằng, những gì ông viết ra còn lâu mới đạt tới sự hoàn thiện, nhưng với sự trợ giúp của bà, cuối cùng chúng sẽ tạo ra một giá trị chân chính không thể chối cãi.

Lòng trung thành của Vera là tuyệt đối và không gì lay chuyển nổi, thậm chí vào cuối những năm 30 của thế kỷ trước, biết rằng Vladimir phản bội, bà vẫn không nghi ngờ về quyết định dứt khoát của mình luôn có mặt bên ông. Ngược lại, Vera rút ra kết luận rằng nỗi bất hạnh này xảy ra là do lỗi của bà và quyết định sửa sai một cách tinh tế và lịch thiệp. Bà không những biết "mang lại sinh khí mới" cho cuộc hôn nhân của họ tưởng chừng như sắp lao xuống vực thẳm, mà còn giúp Nabokov tin rằng những gì ông đã làm đều hướng thiện. Sau đó, Vladimir đã đầu hàng và khẳng định rằng những gì ông có được đều nhờ bà và thiếu bà, ông không là gì cả.

Năm 1937, hai vợ chồng rời Berlin, đó là thời điểm hầu như không ai không nghi ngờ rằng chiến tranh thế giới thứ hai sắp bùng nổ. Châu Âu không còn là nơi tin cậy, và rõ ràng là mọi chuyện ở đây sẽ ngày càng trở nên tồi tệ hơn. Vera thuyết phục Vladimir chuyển đến New York, mảnh đất mở ra trước mắt họ con đường dẫn tới vinh quang, và quả thật, 20 năm sau, vinh quang đó đã đến. Ở Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, đối với Nabokov, công việc của Vera quan trọng hơn bao giờ hết.

Bà không nhìn nước Mỹ như một nơi để nghỉ ngơi, mà thấy trong đó bàn đạp để quảng bá những tác phẩm của chồng mình, công bố và phổ biến chúng. Ngay cả khi người phụ nữ không biết mệt mỏi này bị bệnh viêm phổi, bà cũng vừa nằm trên giường, vừa đánh máy bản thảo của chồng, không cho phép ông phút nào ngơi nghỉ công việc sáng tác, mặc dù đôi khi quả là họ cũng bị nợ nần thúc ép.

Vladimir đánh giá vợ rất cao, dành cho bà những lời đẹp nhất

Có thể nói rằng, đóng góp của Vera vào nền văn học thế giới rất lớn và không thể chối cãi, bởi vì chính bà đã cứu "Lolita" thoát khỏi ngọn lửa trong ý nghĩa trọn vẹn của từ này, khi do bị kiệt sức vì công việc và hoài nghi, Nabokov đã ném tập bản thảo vào bếp.

Vera ngồi sau tay lái cả những khi Vladimir ngồi ở hàng ghế phía sau vừa ấp ủ cuốn tiểu thuyết bất tử, vừa đi thăm tất cả những địa điểm được mô tả trong tác phẩm này. Bà đọc, đánh máy lại cuốn tiểu thuyết kể về mối tình đầy khả nghi của một giáo sư, gần như một lão già, với một cô bé.

Vera đã làm tất cả để cứu cuốn tiểu thuyết khỏi ngọn lửa. Ngoài ra, như bà từng thú nhận, bà sợ rằng ký ức về cuốn tiểu thuyết dang dở sẽ giày vò Vladimir suốt đời, và bà không thể nào chấp nhận điều đó.

Một trong những sinh viên đã chứng kiến cảnh "Lolita" được cứu thoát khỏi ngọn lửa, khi cậu nhìn thấy bà Vera xuất hiện trên ngưỡng cửa và hai tay vung vẩy tập bản thảo đang bốc cháy hòng dập tắt ngọn lửa. Tất nhiên, đây không phải là hình thức giúp đỡ chồng duy nhất của Vera.

Bà lái chiếc ôtô gia đình như một tài xế trung thành của nhà văn, ký kết hợp đồng với các nhà xuất bản, tỏ ra không kém phần chặt chẽ so với các đại lý văn học nhà nghề khắt khe nhất, thậm chí bà thu thập tư liệu cho các tác phẩm tương lai của ông, ví dụ như ghi lại hồi ức về những năm đầu đời của con trai họ để sau đó Vladimir có thể viết cuốn "Ký ức, hãy lên tiếng". Hơn nữa, Vera thậm chí đã sửa những truyện ngắn chồng viết bằng tiếng Đức và thơ viết bằng tiếng Ý. Còn khi  đã gần 80 tuổi, bà bắt đầu dịch cuốn "Lửa nhạt" ra tiếng Nga.

Tuy nhiên, sự giúp đỡ của bà không chỉ mang ý nghĩa văn học

Vera biết rất rõ rằng con người sáng tạo cần được yên tĩnh, vì vậy bà đã làm tất cả để cuộc sống của Vladimir trở nên thoải mái, để ông không cảm thấy thiếu thốn, đến mức bà đã tìm cách làm sao để những con bướm mà Nabokov say mê sưu tầm khi chết cảm thấy ít đau đớn hơn.

Khác với những nhà văn vốn cho rằng tất cả mọi người phải phục vụ, thậm chí hầu hạ tài năng của họ, Vladimir chân thành trân trọng sự giúp đỡ và ủng hộ của vợ, không tiếc những lời yêu thương dành cho bà. Vladimir suốt đời than phiền về sự cô đơn, và có lẽ, ông có cơ sở để làm như vậy, nhưng sự tiếp xúc, trò chuyện và cười đùa với Vera luôn luôn là một niềm vui đối với ông. Ông luôn luôn cần sự có mặt của bà, thiếu bà, niềm vui của ông không còn trọn vẹn. Một lần, thậm chí ông không bắt một con bướm cực kỳ quý hiếm chỉ vì Vera không ở bên cạnh để đánh giá con mồi tuyệt vời của ông.

Vladimir Nabokov qua đời năm 1977, Vera sống đến năm 1991, sau ông gần 15 năm. Nhưng bà không sử dụng những năm này để nghỉ ngơi. Ngược lại, bà đã dành thời gian cho một công việc cực kỳ vất vả mà mọi người mong đợi ở bà. Bà hết sức thận trọng xem xét từng bản dịch, từng ấn phẩm mới xuất bản của Nabokov. Ngoài ra, bà tiếp tục dịch các tác phẩm của chồng ra tiếng Nga.

Có thể đánh giá cuộc hôn nhân phi thường của gia đình Nabokov theo nhiều cách khác nhau

Không nghi ngờ gì nữa, sẽ có những nhà nữ quyền cho rằng Vera là một nô tỳ, chứ không phải vợ của Nabokov, do đó tài năng của ông sống ký sinh trên sự tận tụy của Vera. Chắc chắn, sẽ có không ít người khẳng định rằng, người phụ nữ này chiếm một vị trí to lớn trong cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn, đến mức có thể nói rằng bà là đồng tác giả các tác phẩm của ông.

Có lẽ, cả hai quan điểm trên đều có lý do tồn tại. Tuy nhiên, rốt cuộc tình yêu là tình cảm đa dạng, nó thường không bị giới hạn trong những khuôn mẫu quen thuộc nào đó. Và không ai có thể phủ nhận rằng, trừ một vài trường hợp hiếm hoi, Vladimir và Vera là những con người cực kỳ hạnh phúc trong suốt 52 năm cuộc sống gia đình của họ. Phải chăng đó không phải là điều kỳ diệu?

Trần Hậu

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.