Người như tranh bước ra từ ngọn lửa

Tôi không nhớ đã gặp họa sĩ Đỗ Ngọc Dũng lần đầu tiên ở đâu, rất ít gặp anh, song ấn tượng về anh hàng chục năm vẫn không thay đổi. Anh sang trọng mà xuề xòa, nghiêm ngắn mà tinh nghịch, cái gì cũng thông tuệ mà cái gì cũng lơ mơ, nhưng tấm lòng với anh em bè bạn văn chương đều trước sau như một tuyệt không thay đổi.

Với giới văn nghệ sĩ, người đời đã nhầm khi từng cho rằng Đỗ Ngọc Dũng quý nữ giới hơn nam bởi tranh của anh nhìn đâu cũng thấy chị em mơn mởn. Có giao người mẫu U80 để Đỗ Ngọc Dũng thể hiện thì tranh vẫn cứ mơn mởn mười tám đôi mươi. Cơ mà Dũng ta luôn quý trọng tài năng, đặt tài năng lên hàng đầu, chứ đã là nghệ thuật làm sao rạch ròi nam - nữ? Điều này không chỉ riêng tôi biết. Nhưng tôi biết rất chắc chắn rằng, nếu đặt lên bàn cân hai tiềm năng văn nghệ nam và nữ, nếu đồng cân đồng lạng, Dũng ta sẽ chọn kẻ mang giới tính nam. Có gì sai sai chăng? Đời người, nhất là đời giới văn chương nghệ thuật làm sao rạch ròi sai đúng? Cái đúng cái sai nhiều khi cũng như cánh bướm mỏng sang sông.

họa sĩ đỗ ngọc dũng.jpg -0
Họa sĩ Đỗ Ngọc Dũng.

Trong hành trình lên Điện Biên mùa hoa ban đầu xuân, không khí vùng đất Tổ càng mười phần lung linh sóng sánh vẫy mời. Các bạn văn Phú Thọ luôn yêu quý tôi thì Đỗ Ngọc Dũng là một trong những người hăm hở nhất mỗi cuộc tôi xuất hiện giữa muôn hồng ngàn tía thập diện mai phục như ngày vua Hùng kén rể tứ phương. Nếu hỏi cuộc đời thế nào là sung sướng thì tôi cứ lấy luôn cuộc đời tôi ở lúc giữa giới văn hồng tía đất Tổ kèm thêm Đỗ Ngọc Dũng chính là lúc hoa bay dưới kiếm, nước bạc trăng thanh, hồ rượu biển thơ bát ngát cung mây vui sướng tưởng như không bao giờ dứt. Đó cũng là niềm khoái thú tự tay mình cầm tặng hoa cho mình chứ khi tàn canh tỉnh rượu đâu lại đóng đấy, nghiêm ngắn khác thường, cái gì cũng sợ, nhất là sợ vợ.

Nhắc đến vợ hiền thơm thảo, Đỗ Ngọc Dũng khác gì tôi đang giữa bầy tiên nữ bỗng giật mình thon thót mồ hôi mồ kê ướt đầm dưới gió thổi điều hòa 19 độ. Thì mới buổi chiều, khi Đỗ Ngọc Dũng dẫn tôi và bạn văn chương xem từng phòng tranh, từng bức tranh bỗng thấy phu nhân của anh thoáng hiện nơi cầu thang, tôi đã nói một câu như thần đồng mách nước: “Xem tranh Đỗ Ngọc Dũng tất thảy đều vị cái đẹp vị nhân sinh mà xem ra phần gái đẹp luôn là chính yếu. Các tiên đồng ngọc nữ từ thuở hồng hoang đến kỷ Hồng Bàng đến thời Bà Trưng, Bà Triệu kéo một mạch đến thời nay đều là những nữ nhân mặt hoa da phấn sắc đẹp cứu người ở đây là cứu ngài họa sĩ, vừa là lẽ sống của ngài vừa là pháp luật của ngài.

Ông anh ơi, chỉ có tài năng như ông anh mới bức nào bức nấy đều là một người xinh đẹp như mộng, hiện thực đến từng milimet, sát sàn sạt, nóng hôi hổi bên cạnh ông anh, vừa là thần tiên vừa là quan tòa công minh chính trực dẫn dắt sắc màu toan cọ mở nhiều lối thoát mà cũng rất biết đóng khung chắc chắn lồng lộng lưới trời như năm ngón tay Phật tổ. Ông anh dẫu có là Tề Thiên Đại Thánh tài hoa kế sách tinh quái cỡ nào, thậm chí dám cả gan tè vào cột thiên đình cũng đời nào ra khỏi bàn tay của chủ nhân?

Thôi thì ông anh hãy nghe em, một kẻ đã sớm phải chịu kiếp nạn như ông anh đây khuyên, rằng chúng ta hãy cứ cam tâm tình nguyện phục tùng, chân thành cũng được mà giả vờ giả tảng cũng được mới là đại kế vẹn toàn. ''Chủ nhân'' sáng suốt ắt sẽ biết ban công ban thưởng nhắm mắt cho qua những tội lỗi nam nhi thường tình cũng là đạo lý mà nữ nhân buộc phải dành cho nam nhân vậy. Còn như ông anh cậy tài cậy đảm, mũ ni che tai, bỏ nặng tìm nhẹ, theo đàn ong bướm phù vân, tưởng là tới được cảnh giới tiên mộng của mình, làm cha thiên hạ, kỳ thực cũng chỉ là ảo mộng mò kim đáy bể, bắt cá trong trăng mà thôi”.

Chả hiểu những lời có cánh ấy bay vào tai ông anh thế nào nhưng chính là để ra thông điệp với nữ thần chủ của ngài họa sĩ đứng cạnh, thấy cả hai đều cười ngất. Đã tự cười được mình, nghe người khác nói câu nửa nịnh hót nửa châm biếm mà vẫn cười tóa lên khoan khoái chắc chắn đã ở một đẳng cấp khác rồi.

Bốn tầng tranh hàng trăm bức của Đỗ Ngọc Dũng tại tư dinh thành phố Việt Trì chính là phần lớn cuộc đời anh đã hiện hình ở đó. Đỗ Ngọc Dũng đã và đang bán được rất nhiều tranh. Anh ngày nào cũng vẽ mà ngày nào cũng giao lưu bè bạn nơi nơi bất kể đêm ngày sớm tối trừ lúc nữ chủ nhân tuyên gọi. Tranh Đỗ Ngọc Dũng vừa hấp dẫn vừa khơi gợi, gửi thông điệp, khẳng định những dòng suy tư lớn, từng câu chuyện khác nhau từ thượng tầng lịch sử quốc gia tới bách dân trăm họ, tới từng con người cụ thể, nhất là những bức anh vẽ phụ nữ một mình đều đậm cá tính riêng - đó là sự dâng hiến đến tận cùng.

Tranh của Đỗ Ngọc Dũng là trí tuệ và tài hoa của người nghệ sĩ dâng mật cho đời tuyệt không đòi hỏi mảy may cho riêng cá nhân mình. Những người phụ nữ trong tranh Đỗ Ngọc Dũng từ thuở hồng hoang đến thời đại mới, dù trong đám đông lễ hội trang nghiêm trang phục hoành tráng hay lúc một mình không mảnh xiêm y đều là tận hiến vẻ đẹp trí tuệ và vẻ đẹp thần thái khúc thức, tinh túy, cơ thể vừa lặn sâu ở bên trong vừa toát ra thần thái bên ngoài có khi không nằm trong tranh, mỗi người cảm nhận khác nhau tùy theo tri thức, tri giác, tri ngộ của mình.

Nhiều người cho rằng, tranh Đỗ Ngọc Dũng luôn tả thực, tả một một, tả mẫu nào y sì mẫu đó, nhưng đó chỉ là cái vỏ bên ngoài. Cái lõi bên trong tranh Đỗ Ngọc Dũng luôn là rất khác. Anh luôn thấm đẫm một triết lý cái đẹp nhất, tinh chất nhất đều phải được bắt nguồn từ lao động. Lao động sản sinh con người. Lao động càng sản sinh cái đẹp bao gồm cả người đẹp trong tranh đến người đẹp ngoài đời. Tranh của anh từ tả thực, ẩn dụ, trừu tượng, biểu hiện, siêu thực… đều là truy tìm và tôn vinh cái đẹp đến tận ngọn nguồn phát tích. Đó chính là vẻ đẹp từ sự lao động của nhân dân cần lao của dân tộc ta đã mấy nghìn năm.

vợ chồng hoạ sĩ đỗ ngọc dũng.jpg -1
Vợ chồng họa sĩ Đỗ Ngọc Dũng.

Tôi luôn ngạc nhiên không hiểu tại sao cánh họa sĩ luôn thân thiết với các nhà văn, nhất là những người viết tiểu thuyết, càng tiểu thuyết lịch sử thì càng thân thiết còn có phần chiều chuộng. Tôi cũng chẳng ngạc nhiên biết chắc cánh họa sĩ bán được tranh như Đỗ Ngọc Dũng chẳng hạn không chỉ giàu có về vật chất, tinh thần mà còn luôn rất hào sảng với cánh văn chương chữ nghĩa. Có lẽ nào họ từ thương thân mình sang thương thân người khác, có khi chỉ biết thương người không biết thương thân mà tình nguyện thù tiếp, bao sân, gánh gánh gồng gồng chầu này hiệp khác, lên xe xuống ngựa, chiêu đãi cánh văn chương tiểu thuyết thùng đào thùng đấu, ngày đêm sáng tối chỉ biết cắm mặt vào trang giấy, vợ đặt đâu ngồi đấy tuyệt không biết miếng ngon miếng ngọt là gì, nên động lòng trắc ẩn chăng? Thôi cũng chả nên rạch ròi mà hãy lập tức thưởng thức những gì ông anh ông bạn họa sĩ thiết thân trao tặng.

Buổi ấy, trong không khí đậm đặc chất văn chương nghệ thuật. Tôi ngồi giữa các bậc đa đề là nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn, nhà thơ Kim Dũng, họa sĩ Đỗ Ngọc Dũng và tám “tiên nữ” đều là những tài hoa Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Phú Thọ. Những ly rượu thần tiên cũng chẳng biết đắng ngọt thế nào cứ vơi vơi cạn cạn, trong tâm tưởng tôi như có cả voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao… cảm giác như đang sống ở thời Hùng Vương mở hội, phấn chấn lạ thường.

Sau cuộc ấy, với tư cách nhà văn áo lính, chúng tôi hành quân một mạch lên Điện Biên tới các bản làng, nơi có tượng đài ghi tội ác thực dân Pháp sát hại 444 đồng bào ta chủ yếu là người già, phụ nữ và trẻ nhỏ ở bản Noong Nhai, xã Thanh Xương, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên với những xúc động đến tột cùng. Tiếp đó là cuộc đi biên giới tới nơi xa nhất tỉnh Điện Biên - mỏm A Pa Chải càng thấy cuộc sống cần lao, gian khó, thử thách trùng trùng của đồng bào và chiến sĩ ta nơi núi rừng biên cương Tây Bắc rất cần được sẻ chia, đùm đậu.

Thật lạ, đêm núi rừng A Pa Chải, trong bập bùng ngọn lửa, trong hơi ấm của vô số ánh mắt, nụ cười người già, trẻ nhỏ, thiếu nữ, người chiến sĩ biên phòng sao bỗng thấy họ như đang từ trong tranh của Đỗ Ngọc Dũng ùa ra. Có lẽ nào đó là sự thực? Có lẽ nào người từ trong tranh bỗng chốc ùa ra mười mươi có thực cười nói, trao bát rượu, nắm bàn tay bập bùng nơi ánh lửa biên cương.

Nhìn ngọn lửa cháy, nắm chặt bàn tay người thiếu nữ và người chiến sĩ biên phòng, tôi bỗng thấy thật rõ ràng, tất cả các tác phẩm tranh của Đỗ Ngọc Dũng đều bước ra từ ngọn lửa.

Phùng Văn Khai

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.