Người hát rong “nhạc đỏ”

Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trên khắp các chặng đường Trường Sơn cũng như tại các mặt trận Quảng Đà, Khu 5, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, có một người luôn hát rong cho bộ đội, thanh niên xung phong và bà con nhân dân nghe. Người này sẵn sàng phục vụ bất cứ lúc nào, có lúc trước cả đại đội, tiểu đoàn, cũng có lúc chỉ một nhóm người, thậm chí chỉ một người. 

Có điều đặc biệt là người hát rong này chỉ hát những bài lâu nay ta vẫn quen gọi là "nhạc đỏ" - những bài hát truyền thống, cách mạng có giá trị sâu sắc về tư tưởng, tình cảm và nghệ thuật. Người đó là NSƯT Thanh Đính, từng là diễn viên Đoàn Văn công Giải phóng. Sau ngày 30-4-1975, ông giải ngũ, về làm việc ở Nhà văn hóa Lao động TP. Sau khi nghỉ hưu, là Trưởng đoàn Nghệ thuật cựu chiến binh của thành phố này mãi cho đến mấy năm gần đây, tuổi cao, sức yếu, mới nghỉ.

Thanh Đính bước vào con đường ca hát cũng giống như nhiều nghệ sỹ khác. Ông có may mắn được theo học thanh nhạc hệ đại học chính quy đầu tiên ở Trường Âm nhạc Việt Nam (nay là Nhạc viện Quốc gia Việt Nam).

Năm 1965, tốt nghiệp, ông tình nguyện đi B (ngày ấy là vào chiến trường miền Nam). Gần như cả tuổi trẻ oanh liệt nhất, ông là một chiến sỹ cầm đàn và chiến đấu bằng cả súng và giọng hát. Cũng có mấy năm sau ngày giải phóng miền Nam, ông được đi tu nghiệp thêm về thanh nhạc ở Bungari (cùng đợt với các nghệ sỹ Tường Vi, Quý Dương…).

Nếu nhiều ca sỹ khác luôn biểu diễn trong những sân khấu hoành tráng, rực rỡ ánh đèn ở trong nước và nước ngoài thì Thanh Đính lại là người nghệ sỹ của chiến sỹ và nhân dân ở khắp mọi nẻo đường của chiến tranh. Ông đã có mặt ở nhiều mặt trận, hát bên các chiến hào, ven rừng Trường Sơn. Chỉ với một cây đàn ghi ta tự đệm, ông đã thổi bùng thêm ngọn lửa vốn dĩ luôn sôi sục lòng yêu nước và ý chí quyết chiến, quyết thắng của quân dân ta với những ca khúc nổi tiếng một thời: "Nổi lửa lên em", "Chiếc gậy Trường Sơn", "Hà Nội niềm tin và hy vọng", "Bài ca Trường Sơn", "Mỗi bước ta đi"…

NSƯT Thanh Đính.
NSƯT Thanh Đính.

Không chỉ ca hát, ông còn không nề hà, ngần ngại để sẵn sàng truyền, dạy cho bất cứ ai yêu thích bài hát nào mà ông biết trong mọi hoàn cảnh. Một chiến sỹ kể lại: Một lần nghe Thanh Đính hát ở một khu rừng Trường Sơn, anh rất thích và nói với người ca sỹ: "Em rất thích mấy bài anh vừa hát. Lúc nào có dịp, anh dạy em nhé".

Anh nói vậy chứ cũng không theo đuổi việc này vì nghĩ Thanh Đính rất vội, không thể có thời gian dạy mình. Nào ngờ, ngay buổi trưa, lúc vừa ăn cơm xong, khi anh bạn trẻ kia còn đang tranh thủ chợp mắt thì Thanh Đính đã lay dậy và nói sẽ dạy bài hát để còn tiếp tục lên đường, sợ không biết bao giờ mới có dịp gặp lại. Sự nhiệt tình, chu đáo của nghệ sỹ khiến người chiến sĩ rất cảm kích, đã chiến thắng cơn ngái ngủ để trở dậy nghe Thanh Đính dạy mặc dù lúc ấy anh đang cực kỳ mệt mỏi và buồn ngủ.

Thanh Đính là vậy. Ông luôn sẵn sàng hết mình vì đồng đội, sẵn sàng hết lòng hát cho họ nghe bất cứ lúc nào, trong điều kiện nào có thể khi họ yêu cầu, dù chỉ là một người. Tôi đã chứng kiến điều này. Một lần, Thanh Đính từ TP Hồ Chí Minh ra Hà Nội chơi (sau ngày đất nước được thống nhất, ông cùng vợ, con sống ở đây dù quê ở Yên Bái). Ông rủ tôi vào Đoàn Nghệ thuật Quân khu 2 (đóng ở Khương Hạ, Hà Nội) chơi. Lúc này, ông mới đi thực tập ở Bungari về.

Trước khi chính thức có cuộc gặp gỡ, giao lưu với toàn thể anh chị em diễn viên của đoàn, Thanh Đính và tôi vào chơi chỗ ở của họ. Mấy bạn yêu cầu Thanh Đính hát một bài nào đó của Bungari. Ông đã hát liền mấy bài chỉ cho một vài bạn nghe. Đến khi người trưởng đoàn nói để lát nữa sẽ được nghe nghệ sỹ hát rất nhiều trên hội trường thì ông mới chấm dứt. Có những lần hát ở rừng Trường Sơn cho một tốp chiến sỹ nghe, biết có người đang sốt không thể ra nghe, ông đã vào tận nơi chiến sỹ đó nằm để hát cho một mình chiến sỹ ấy nghe lại. Và ông còn hát thêm khi chiến sỹ yêu cầu.

Chẳng những Thanh Đính không quản mệt nhọc để sẵn sàng hát cả giờ liền phục vụ người nghe mà còn can đảm, không sợ nguy hiểm đến tính mạng trong mỗi lần đi biểu diễn. Trong đời văn công của mình, ông không bao giờ quên kỷ niệm về một lần hát ngay trước kẻ địch. Đó là dịp Nôen năm 1967. Thanh Đính cùng Đoàn Văn công Quảng Đà (Quảng Nam và Đà Nẵng) được lệnh diễn ở gần đồn Trà Kiệu là vùng Công giáo thuộc huyện Duy Xuyên (Quảng Nam). Đối tượng nghe là bà con giáo dân ở đây.

Một số anh em trong đoàn có chút e ngại vì sẽ có nhiều lính ngụy đến xem, không thể lường được điều gì sẽ xảy ra. Nhưng Thanh Đính đã động viên anh em là không việc gì phải ngại. Mình sẽ đem lời ca, tiếng hát thuyết phục đám lính ngụy này. Tin rằng không những họ không có hành vi gì đáng ngại mà có thể còn được giác ngộ. Đúng như vậy.

Tối hôm đó, lính ngụy ở đồn Trà Kiệu kéo đến xem khá đông. Họ mang súng ống ngồi lẫn với bà con Công giáo. Họ ngồi nghe rất nghiêm chỉnh, im phăng phắc, tỏ sự tán thưởng, thích thú đặc biệt. Lần đó, Thanh Đính hát rất thành công bài hát "Mỗi bước ta đi" của Thuận Yến. Bài này sôi động, hào hùng, thể hiện ý chí quyết chiến, quyết thắng của quân giải phóng, có đoạn: "Mỗi bước ta đi diệt tan quân giặc cướp nước/ Mỗi bước ta đi đập tan bao bốt đồn thù/ Theo bàn chân ta nơi nơi vùng lên/ Mỗi bàn chân ta ghi thêm một chiến công..".

NSƯT Thanh Đính trong một tiết mục biểu diễn.
NSƯT Thanh Đính trong một tiết mục biểu diễn.

Biết ở dưới có nhiều lính ngụy nghe, Thanh Đính đã cố hát dõng dạc, thật rõ lời, nhìn, giao lưu với họ. Ông càng hứng khởi khi thấy họ chẳng những không thể hiện sự chống đối gì mà còn gật gù và cùng vỗ tay theo bà con tán thưởng. Sau đó, cùng với công tác binh vận của ta mà các binh lính ở đồn này đã quay súng về với ta rất đông. Thanh Đính nói ông vô cùng sung sướng vì được hát với tư thế của người chiến thắng, "đứng trên đầu thù" và lần ấy đã góp chút sức nhỏ bé vào việc vận động binh lính ngụy phản chiến, về với cách mạng.

Một kỷ niệm nữa khiến Thanh Đính không thể quên là lần ông tình nguyện vào chiến trường B (miền Nam) công tác vào năm 1966, đã cùng hành quân với nữ bác sỹ Đặng Thùy Trâm. Ông kể rằng Thùy Trâm rất yêu đời, hay ca hát và hát cũng hay. Biết ông là ca sỹ chuyên nghiệp, có phong cách rất hòa đồng, dễ gần, Đặng Thùy Trâm đã nhờ ông dạy mình nhiều bài. Thanh Đính sẵn sàng tập cho cô bác sỹ trẻ để có nhiều "vốn liếng" phục vụ các chiến sỹ trên chặng đường vào Nam. Ông cũng tập hát song ca với cô một số bài, trong đó có bài "Trước ngày hội bắn" được người nghe rất thích thú.

Đoàn vào chiến trường B lần ấy chỉ có mỗi Thanh Đính là dân văn công. Cứ ở đâu có ông và bác sỹ Thùy Trâm xuất hiện là ở đó có lời ca, tiếng hát. Có lần chỉ hai người đã biểu diễn một chương trình mấy chục bài trong cả tiếng đồng hồ phục vụ người nghe. Sau này, khi nghe tin Đặng Thùy Trâm hy sinh, ông lặng người đi hồi lâu, rất thương tiếc người nữ bác sỹ yêu đời và quả cảm. Đến khi có được cuốn nhật ký của Đặng Thùy Trâm, ông đọc đi đọc lại nhiều lần, thi thoảng lại đem ra đọc để sống lại những năm tháng hào hùng không thể quên trong đời phục vụ, ca hát của mình.

Bạn bè đồng nghiệp và công chúng dễ dàng thấy ở Thanh Đính những phẩm chất ưu tú của một nghệ sỹ đích thực, luôn hết mình phục vụ chiến sỹ, đồng bào vô điều kiện trong khói lửa chiến tranh cũng như trong hòa bình. Ông thực sự là một chiến sỹ kiên cường, dũng cảm trên mặt trận văn hóa, lúc nào cũng đặt sứ mạng phục vụ lên hàng đầu mà bỏ qua quyền lợi cá nhân.

Năm 1974, cấp trên có chủ trương cho một số diễn viên có nhiều công sức phục vụ sang Liên Xô, Trung Quốc, vừa để nghỉ ngơi, vừa tập huấn nâng cao thêm nghiệp vụ, trong đó có Thanh Đính. Nhưng ông đã đề nghị được không đi mà trở vào chiến trường tiếp tục phục vụ. Đến tuổi nghỉ hưu, ông vẫn tiếp tục đóng góp cho Đoàn Nghệ thuật cựu chiến binh thành phố Hồ Chí Minh, vừa trực tiếp biểu diễn phục vụ, vừa làm Trưởng đoàn.

 Hiện nay, Thanh Đính đã ở tuổi 80 (ông sinh năm 1937), không thể ca hát được như trước. Nhưng trong ngôi nhà ông ở phố Trần Hưng Đạo (quận 1, TP Hồ Chí Minh) vẫn còn lưu giữ nhiều kỷ niệm của một thời hào hùng. Ông xứng đáng được tôn vinh như một người anh hùng trong mặt trận văn hóa vì tiếng hát của ông không để mua vui, giải trí mà thực sự có sức hun đúc, thôi thúc biết bao người lao lên phía trước chiến đấu và chiến thắng.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.