Kỷ niệm 20 năm ngày mất của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (1/4/2001 - 1/4/2021)

Ngọn gió hoang vu thổi suốt xuân thì

Sinh thời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn chỉ coi mình là một người hát rong đi qua miền đất này. Ông đã cất lên mọi cung bậc linh cảm về những giấc mơ đời hư ảo. Ngoài hai mảng chính là thân phận con người và tình yêu, nhạc sĩ còn thể hiện những nỗi niềm sâu nặng với cuộc sống và quê hương. Đó là cõi mộng giàu hiện thực mà ông đã từng trải nghiệm và yêu thương để chưng cất vào những tác phẩm âm nhạc sống mãi.

Từ nỗi cô đơn trầm luân…

Nguồn cơn của nhịp đập trái tim đầy hoang mang của Trịnh Công Sơn chính là vì cái chết. Bắt đầu là sự cố tử nạn của người cha. Cùng với đó là tai nạn của Trịnh từ cú đá hiểm hóc của người em trong cuộc tập luyện Judo. Sau đó còn là cái chết của người bạn thân, làm cho Trịnh Công Sơn luôn ám ảnh về sự tan biến trong cõi đời này. Ông yêu những gì chung quanh mình và tỏ lòng buồn bã chán chường với những gì làm hủy hoại đời người. 

Năm 1962, nhạc sĩ học ở Trường Sư phạm Quy Nhơn. Trường ca “Dã tràng” của Trịnh Công Sơn trong thời gian này đã thể hiện tính công dân từ rất sớm. Không còn những cảm xúc tê tái trong “Ướt mi” (1958) hay lãng mạn “Diễm xưa” (1960) mà lời ca đã thân phận hơn trong “Dã tràng” (1962). Đó là nỗi cô đơn tràn ngập khi tâm trạng nghệ sĩ giằng co giữa những bi kịch của sự phi lý của cuộc đời.

Những kỷ vật trong Hội quán Trịnh Công Sơn.
Những kỷ vật trong Hội quán Trịnh Công Sơn.

“Dã tràng” có mạch ngầm triết lý về thân phận con người với hình ảnh được mô tả: “Trùng dương đưa sóng vào bờ/ Đùa lên biển cát hoang vu/ Xóa từng mảnh công dã tràng…”. Âm nhạc vang lên như tiếng kêu thống thiết về con người. Bởi những gì con người làm ra chỉ là công dã tràng. Cái chết đã xóa nhòa đi tất cả. 

Nhưng vượt qua sự bế tắc nhạc sĩ đã tìm ra chốn dung thân của mình. Đó là tình yêu thương cuộc sống: “Tên tháng ngày viết trên môi cười/ Đốt đêm dài nghe ngóng tình yêu/ Nghe dã tràng xuống hai vai gầy/ Đốt cơn buồn đi đến tình yêu/ Gọi vào tình yêu, gọi vào tình yêu/ Ta ra ngàn lời bắc loa gọi vào tình yêu…”. Đây là khởi nguồn cho mạch cảm xúc khai thác hiện thực của Trịnh Công Sơn sau này cùng với những biến cố trong cuộc sống.

Sau đó nhạc sĩ đi vào cuộc sống thực tại với những ngày tháng dạy học ở Bảo Lộc (1964-1967). Được phân công làm trưởng giáo (phụ trách một số lớp), Trịnh Công Sơn lần đầu tiên được cầm những đồng lương và gửi tiền về cho mẹ và em. Trong những năm tháng gõ đầu trẻ miền sơn cước, ngỡ như tâm nhạc sĩ đã tĩnh hơn. Nhưng rồi cuộc đời đầy tao loạn và cuộc tình nhiều trắc trở đã làm cho Trịnh Công Sơn bất an. 

Một hiện thực trầm buồn nơi miền đất đỏ bazan làm cho nỗi cô đơn trong tâm hồn Trịnh ngày một rã rời. Cuộc chiến vẫn cuồn cuộn sôi động. Cái chết luôn rình rập vây quanh. Những mùa hè đỏ lửa đã ghìm chân Trịnh Công Sơn tại nơi mưa gió lầy lội. 

Và đó cũng là những đêm nhạc sĩ thức trắng suy tư về thân phận nghiệt ngã. Những dòng nhạc phản chiến đã ra đời trong căn phòng trọ đìu hiu ngập ngụa khói thuốc. Một hiện thực dữ dội ập đến trong từng con chữ trần trụi qua những chùm “Ca khúc da vàng”, “Gia tài của mẹ” và “Người phu quét đường”…

Nhưng rồi nỗi cô đơn trong con tim người nhạc sĩ đã nổi loạn khi cuộc chiến tranh ngày mỗi ngày khốc liệt hơn. Trịnh Công Sơn lưu lạc vào Sài Gòn hòa vào dòng người biểu tình phản chiến để rồi  cất lên những khúc ca phản chiến đầu tiên trong khuôn viên Quán Văn, Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn (1967-1968). Cũng từ đó nỗi cô đơn đầy trầm luân của Trịnh Công Sơn đã được sự chở che và đón nhận của hàng ngàn khán giả trẻ tuổi và những người yêu nước. 

Nhạc sĩ đã đoạt giải Đĩa Vàng với ca khúc “Ngủ đi con” (năm 1972-Nhật Bản). Đây là giai đoạn thăng hoa nhất của nhạc sĩ cho đến ngày đất nước được thống nhất (30-4-1975). Cũng chính ngày này nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã ôm đàn hát vang bài ca “Nối vòng tay lớn” trên đài phát thanh Giải phóng. Ý thức công dân trong người nhạc sĩ dâng cao. Cuộc sống mới chờ đón ông phía trước.

… Đến “Huyền thoại mẹ”

Nhạc sĩ nhập cuộc sống mới một cách ấm áp chân tình. Bên cạnh những dòng chiêm nghiệm siêu thực trong lời ca của cõi tình riêng, nhạc Trịnh cởi mở hơn trong ánh sáng hiện thực nóng bỏng. Tâm hồn nhạc sĩ luôn bay bổng với niềm vui mỗi ngày. Niềm lạc quan đã lấn át đi nỗi sầu muộn. Cuộc sống mới tràn vào âm nhạc Trịnh trong những cung bậc yêu thương. 

Giai điệu của “Thành phố mùa xuân” cùng “Em ở nông trường em ra biên giới” (Giải Nhất năm 1985) sống động và tươi vui. Hàng chục ca khúc của Trịnh Công Sơn bừng sáng qua những chuyến đi thực tế. Đó chính là mạch nguồn ánh sáng tâm hồn mới từ những ca khúc trước đó như: “Chưa mất niềm tin” và “Việt Nam ơi hãy vùng lên”, “Huế-Sài Gòn-Hà Nội”, “Nối vòng tay lớn”... 

Cuối cùng là giải Nhất cho ca khúc “Hai mươi mùa nắng lạ” (Cuộc thi 20 năm giải phóng miền Nam-1995). Dần dần hiện thực cuộc sống xây dựng sau hòa bình tạo nên trục cảm xúc mới lạ trong âm nhạc Trịnh Công Sơn. Những bản tình ca của ông giờ đây càng chan chứa niềm lạc quan và rạng rỡ sắc màu.

Hàng triệu khán giả luôn đón nhận âm nhạc của Trịnh như ngày nào. Giai điệu “Nhớ mùa thu Hà Nội”, “Đoản khúc thu Hà Nội” cùng với “Bống không là Bống” và “Bống bồng ơi” luôn vang lên trong nỗi niềm riêng với khúc ca “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui”. 

Đặc biệt ca khúc “Em còn nhớ hay em đã quên” gắn với bộ phim cùng tên (1992) đã gắn bó Trịnh Công Sơn với cuộc sống mới tràn ngập tình yêu thương với những lời ca: “Em ra đi nơi này vẫn thế/ Vẫn có em trong tim của mẹ/ Thành phố vẫn có những giấc mơ/ Vẫn sống thiết tha/ Vẫn lấp lánh hoa trên đường đi”. Nhiều chuyến đi thực tế như những ngọn đuốc đốt cháy cảm xúc tươi sáng và tha thiết tình yêu cuộc sống trong tâm hồn ông.

Đáng chú ý trong một chuyến đi tới Quảng Bình (1984), nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã giật mình khi nhìn tấm hình “Mẹ Suốt”. Nỗi rung động hùng ca trào lên bất ngờ cùng với giai điệu lắng đọng trong bài ca “Huyền thoại mẹ”. Khác với nỗi đau mất mát và buồn thương trong “Em ở nông trường em ra biên giới” (1981) mà với “Huyền thoại mẹ” đậm đặc nét huyền thoại phiêu linh. Phải nói đây là câu chuyện xúc động và người mẹ được kể bằng giai điệu âm nhạc thiền sâu sắc. 

Lời ca như những phân khúc ẩn dụ kỳ lạ: “Đêm chong đèn ngồi nhớ lại/ Từng câu chuyện ngày xưa/ Mẹ về đứng dưới mưa/ Che đàn con nằm ngủ/ Canh từng bước chân thù… Mẹ chìm trong đêm tối/  Gió mưa tóc che lối con đi…”. Ông dấn thân trong sự vận động và đón nhận nó như chính cuộc sống của mình. “Huyền thoại mẹ” là một điển hình sâu sắc cho sự đổi thay này. Hội Nhạc sĩ đã trao giải thưởng lớn cho nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (1997) với chùm ca khúc: “Xin trả nợ người”, “Sóng về đâu” và “Em đi bỏ lại con đường”.

Một cõi đi về

Huế là tiếng vọng luôn chào đón Trịnh Công Sơn trở về sau 20 năm xa rời cõi tạm. Ngọn gió sông Hương luôn ngân vang lời ca: “Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi/ Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt…”. Mới đây các họa sĩ đã tổ chức các cuộc vẽ nhạc Trịnh Công Sơn bên công viên dọc sông. Con đường mang tên Trịnh luôn văng vẳng lời mời gọi ông trở về với Huế. Bản vẽ của những họa sĩ trong mấy mùa nay luôn trầm lắng với sắc màu siêu thực mộng mơ: “Đường chạy vòng quanh một vòng tiều tụy/ Một bờ cỏ non một bờ mộng mị ngày xưa”. Đó là dư âm “Một cõi đi về”.

Và mới đây TP Huế đã dành đất đón ông về. Đó là mộ phần linh thiêng tại quê nhà, xã Thủy Phương, thị xã Hương Thủy. Không ai muốn ông đi xa mãi bởi âm nhạc trĩu nặng hồn Huế của nhạc sĩ luôn ám ảnh trên từng mảnh đất quê hương. 

Và thêm nữa một nhà lưu niệm Trịnh Công Sơn sẽ được xây bên sông Hương cùng với những danh nhân Huế. Ngôi nhà mang tên “Gác Trịnh” trên đường Nguyễn Trường Tộ vẫn in đậm hình bóng nhạc sĩ tài hoa. Tất cả Huế muốn Trịnh Công Sơn quay về để thoát cảnh: “Trăm năm vô biên chưa từng hội ngộ/ Chẳng biết nơi nao là chốn quê nhà”.

Vương Tâm

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.