..."Nghe tiếng trống chèo, bế bụng đi xem"

Bây giờ, ông Lê Công Túy đang phải gánh vác sứ mệnh quan trọng của một “ông trùm” gánh chèo làng vào hạng nhất nhì vùng đất của những “chị Hai 5 tấn”. Thuở chưa xa, nói tới Thái Bình - cái nôi chèo truyền thống vùng châu thổ sông Hồng, y như rằng, thiên hạ nhắc tới gánh chèo làng Khuốc, nơi có món bánh cáy nổi tiếng, huyện Đông Hưng. Nhưng mà nay, ở “thì hiện tại” ngôi vị ấy đã thuộc về gánh chèo làng Gang của ông Túy thật rồi.

Gánh chèo Gang, xã Thụy Ninh, huyện Thái Thụy ra đời và nhanh chóng nổi đình, nổi đám từ những năm 60 của thế kỷ trước. Cũng là những năm tháng bi hùng, đầy lãng mạn ấy, người giữ phần hồn cho gánh chèo Gang bằng nhịp trống chèo trứ danh là ông Ngô Hoa. Ngày đó, trong dân gian đã truyền tụng một bài thơ lục bát thể hiện vai trò chủ chốt của các thành viên thuộc gánh chèo Gang, trong đó có hai câu: “…Sáo Chi, nhị Lục, đàn Kỳ/ Trống Hoa, phách Chỉnh, phông màn ông Thi…”.

Thuở ông Hoa đảm nhận vai trò linh hồn của gánh chèo Gang, ông Túy còn là một cậu học trò trường làng. Đó cũng chính là những năm tháng cuộc chiến tranh ái quốc của dân tộc bước vào giai đoạn gay go, kịch tính nhất. Không hề so đo, ông Túy tự nguyện xếp bút nghiên, tình nguyện nhập ngũ, dù lúc đó người anh ruột đang ở chiến trường B. Ấy là vào một ngày đẹp trời của  tháng 10 Mậu Thân - 1968.

Ông Túy trống chèo.
Ông Túy trống chèo.

Qua mấy tháng tân binh khổ luyện trên thao trường, ông Túy cùng đồng đội với chân dép lốp vượt Trường Sơn vào tăng cường cho chiến trường B.3 Tây Nguyên. Hơn 3 tháng sau, ngay khi chân ướt, chân ráo tới cao nguyên Gia Lai, nơi có buôn Plei Ơi, quê hương của các thế hệ vua lửa huyền tích; và là vương quốc hoa pơ - lang  của thi ca, đồng thời cũng là xứ sở loài hoa dã quỳ đẹp man dại. Với tiềm năng hội họa bẩm sinh, ông Túy trở thành anh lính đồ bản của đơn vị C3 - D1 - E48 - F320A. 

Cuối cùng, mùa Xuân đại thắng 1975 cũng tới, tháng 11 năm ấy, ông Túy được xuất ngũ về với người mẹ già quanh năm bỏm bẻm nhai trầu mòn mỏi tựa cửa ngóng tin con từ chiến trường. Làm người lính giữa thời bình, cứ ngỡ ông Túy sẽ tiếp tục con đường học hành nhằm phát huy tiềm năng hội họa và lấy đó làm vốn liếng giắt lưng mà tự tin khởi nghiệp. Vậy nhưng, người cựu chiến binh đó lại chọn con đường lập thân, lập nghiệp bằng việc tự sắm con dao xây để hành nghề xây dựng dân dụng ngay tại quê cha đất tổ. Bắt đầu từ cái việc ngày qua ngày chuyên cần làm bạn với vôi vữa, tiềm năng hội họa trời ban của ông Túy có cơ hội thăng hoa.

Cũng kể từ cái ngày đầu tiên vác con dao xây đi làm đẹp, làm sang cho thiên hạ để có đồng tiền bát gạo nuôi thân và phụ giúp gia đình, ông Túy chính thức góp mặt vào gánh chèo làng Gang. Một lần ông Túy giãi bày, chỉ với cách đó mới thỏa cái nỗi “phải lòng chèo” từ thuở còn là chú bé trẻ trâu lũn cũn theo thân mẫu phục vụ gánh chèo làng của cụ “trùm” Luận, người em ruột của mẹ đẻ.  Ngày nối ngày, lúc thanh thiên bạch nhật, ông Túy đi kiếm cơm thiên hạ, đêm xuống lại góp mặt tại chiếu chèo của làng.

Ông Túy tự nhận, mình hát chèo không thật hay. Nhưng bù lại, với vóc vạc phong độ tuấn tú và nhất là bởi có “căn duyên” với chèo từ lúc còn nằm trọng bụng mẹ nên ông Túy “chuyên trị” các vai hoàng tử bạch mã. Hoặc hóa thân vào những nhân vật vua quan tai to mặt lớn,… trong các tích chèo cổ, hay các vở chèo lịch sử và, những vai nam chính của các vở mang đề tài hiện đại.

Không chỉ là một diễn viên, với tài năng hội họa, ông Túy kiêm nhiệm khoản thiết kế mỹ thuật cho các vở diễn của gánh chèo Gang. Chỉ tại cái duyên nợ với chèo, đột nhiên một lúc nọ, ông Túy đâm ra “Chẳng thèm ăn chả, ăn nem. Nghe tiếng trống chèo, bế bụng đi xem” bởi tiếng trống chèo quyến rũ mê hoặc, chả khác nào cái người phải “bùa mê, thuốc lú” vậy. Để thỏa mãn khát vọng của mình, ông Túy liều đánh bạo mượn cái trống chèo của ông Hoa mang về nhà để học cách sử dụng.

Có trống trong tay, lúc này ông Túy mới thảng thốt vỡ lẽ ra sự thật: Yêu tiếng trống chèo là một chuyện nhưng để có thể đánh được dù chỉ một nhịp trống cho ra hồn thôi, quả thật khó. Cũng bởi tại “nghề chơi cũng lắm công phu!” mà theo ông Túy, vào cái “thuở ban đầu lưu luyến ấy”, cũng phải trầy trật lắm, người nghệ sĩ thuần phác của làng Gang mới có thể xác định rành rẽ những khái niệm phổ thông:  đâu là “tang trống”; đâu là mặt rìa của trống, v.v…

Khách tò mò hỏi, muốn đánh được trống chèo, điều cơ bản trước nhất là gì, ông Túy thủng thẳng giãi bày: “Phải biết cầm dùi trống cho đúng cách!”. Cứ như ông Túy, việc học cầm dùi trống chèo tưởng là chuyện “nhỏ như con thỏ”, song kỳ thực không hề đơn giản chút nào. Có chung một tên gọi: “trống!” đấy, nhưng, cái trống chèo nó khu biệt với loại trống của dàn nhạc nhẹ, cũng như với trống của nhiều loại hình nghệ thuật khác. 

Thế nên, khi nói đến “V” (vê) tức là chắp tang, thấy khách ngơ ngác, sau cái cười hiền, ông Túy điềm đạm giải thích: “Chắp tang có nghĩa là để giữ nhịp cho người hát. Do vậy, về nguyên tắc, cầm dùi trống chèo người ta phải để cho cổ tay thật thoải mái. Vì lẽ, nếu cầm dùi chặt quá sẽ không thể ngoắt được nó. Còn nếu cầm lỏng quá dễ khiến dùi bị tuột khỏi tay. Để có thể sử dụng hai cây dùi một cách thật sự “ma thuật”, người đánh trống chèo nhất định phải dùng cả cổ tay khi đánh trống, đồng thời thả lỏng mở rộng hết cỡ cổ tay!”.

Lúc mặn chuyện, ông Túy bảo, muốn đánh được trống chèo, nếu không thuộc được lời hát, chí ít cũng phải thuộc được tất cả các làn điệu (mà chèo có tới hơn 100 làn điệu khác nhau!) lẫn cách ra vào, cách luyện tâm và xuyên không. Nếu như không có được cái gọi là “tý lưng vốn cơ bản” ấy, đừng bao giờ mơ tới chuyện kết bạn thâm giao với với trống chèo.

Sau bao năm “say” tiếng trống chèo đến mức “vật vã như điếu đổ”, ông Túy tiết lộ điều bí thuật, một trong những quy tắc cơ bản hàng đầu với người giữ nhịp trống chèo: khi biểu diễn không bao giờ được đánh đệm vào chỗ người ta hát mà phải đệm vào chỗ người ta nghỉ hát, ấy là chỗ nhịp ngoại. Còn nếu đánh đệm cho người hát nhất định phải đánh vào những phụ âm I, A, Ê,… Bằng “phép thuật” đó sẽ tạo cơ hội cho người đánh trống có thể đế lên được. Còn khi diễn viên đang hát, tốt nhất, người đánh trống chỉ giữ nhịp bằng cái tang. Vậy nên, từ thời thượng cổ, dân gian truyền tụng câu: “phi trống bất thành chèo” là vậy, vì cái trống chính là linh hồn của cả một gánh chèo!”.

Sẽ là rất hao giấy tốn mực nếu kể một cách tường tận quá trình tiếp cận đầy gian nan, nhẫn nại của ông Túy với cái trống chèo thô mộc. Nhắc tới điều đó, ông Túy đỏ mặt mủm mỉm thừa nhận: “Cũng phải qua vài trăm lần “lên bờ xuống ruộng” mất ăn mất ngủ và thậm chí, đổ mồ hôi sôi nước mắt “phờ râu trê” mới có thể làm người sai khiến được cái trống chèo đấy anh ạ!''.

Nói đến ông Túy trống chèo, người làng Gang lại tủm tỉm với câu chuyện “thật mà như bịa”. Chuyện rằng, vào một ngày tháng 5, nắng “…chết cả cá cờ”, lúc ấy đang cùng con cháu xây nhà thuê cho thiên hạ, bỗng dưng trời nổi cơn phong ba. Ngay lập tức, ông Túy hốt hoảng mang con dao xây lao như tên bắn về nhà. Liền đó, ông Túy cuống cuồng bắc thang trèo lên mái nhà ôm chiếc trống chèo mới tinh còn thơm mùi gỗ mít và mùi da trâu ngai ngái đem bỏ vào chiếc túi vải mới thửa mà cất tủ như giữ một thứ báu vật vô giá, mặc cho cả sân thóc với khối lượng hàng tấn đang phơi chịu trận mưa như thác đổ. Tiếc đứt ruột mẻ thóc lớn ngấm nước mưa, vợ con thi nhau gạt nước mắt mếu máo trách cứ, ông Túy đỏ mặt gãi tai nhệch miệng cười trừ.

Vui chuyện, tôi hỏi ông Túy: lý do gì lại khiến người nghệ sĩ chân quê yêu tiếng trống chèo cứ như là bị “ma ám” vậy?! Sau cái cười đầy thuần phác, ông Túy thủ thỉ dốc lời gan ruột: “Ờ thì tớ nghĩ, một khi tiếng trống chèo còn thì làng Gang ta đây còn. Mà làng Gang còn thì nước Việt Nam càng thêm giàu đẹp, vậy thôi!”.

Đấy là tấm lòng người nghệ sĩ chân đất của gánh chèo Gang với tiếng trống chèo. Riêng tôi lại nghĩ, nỗi niềm trên không của chỉ của riêng ông Túy đâu, nó còn là khát vọng nhân văn cao cả của vô vàn những người nông dân thuần khiết khác, ở mọi vùng - miền trên dải đất hình chữ S. Và chính ý thức công dân cao cả đó của họ sẽ cùng tạo nên một thứ nhiệt năng vô giá góp phần giữ cho non sông đất Việt mãi trường tồn, ấy thế!

Lê Công Hội

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.