Nghệ thuật tạo hình của nhang án gỗ trong chùa thế kỷ17

Nhang án là một ban thờ mà bất kỳ di tích nào cũng cần đến. Nhang án gỗ trong chùa ở Đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam có nhiều sự thay đổi phong phú qua các giai đoạn lịch sử khác nhau. Thế kỷ 17 là thời kỳ nhang án gỗ phát triển đạt trình độ cao nhất trong nghệ thuật tạo hình dân gian.

Nhang án và nhang án gỗ thế kỷ 17

Nhang án (bàn thờ, hương án) là sản phẩm phục vụ tín ngưỡng có chức năng đặt/ để bát hương và bày đồ thờ cúng. Nhang án với ý nghĩa truyền tải thông điệp, ước vọng của con người muốn gửi tới thần linh. Mặt khác nó góp phần xác định loại hình, giá trị của từng di tích tôn giáo, tín ngưỡng. Đến nay, ta đã gặp nhang án với ba chất liệu chủ yếu: đá, gốm và gỗ.

Thời Lý, hầu như không còn một nhang án cụ thể và đầy đủ, có chăng chỉ là những mảnh nhang án được trang trí còn sót lại của chùa Phật Tích hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử. Sang thời Trần, đã có những bước phát triển nhất định, khi Nho giáo và tầng lớp Nho sĩ ngày một lớn mạnh, kéo theo sự ảnh hưởng của nghệ thuật Trung Hoa. Đây là sự mở đầu cho chuyển hóa của nghệ thuật tạo hình Đại Việt với nền văn hóa bản địa. 

Thế kỷ 13 tới nay chưa tìm thấy dấu vết nào của đồ thờ thông thường, cho đến nửa cuối thế kỷ 14 (sau thời kỳ chống Nguyên Mông), văn hóa làng xã được trỗi dậy, các ngôi chùa làng được dựng với chất liệu bền vững và đây là lúc hình thành dạng nhang án đá hình hộp chữ nhật lớn. 

Những nhang án có niên đại cụ thể được tập trung nhiều ở tả ngạn sông Đáy, nhất là ở các huyện Hoài Đức, Quốc Oai, Thanh Oai, Ứng Hòa (của Hà Nội). 

Sang thời Lê sơ, dạng nhang án hình hộp chữ nhật vẫn duy trì, trong đó có chùa Thanh Sam - Ứng Hòa - Hà Nội. Thế kỷ XVI (thời Mạc) đây là giai đoạn điển hình cho sự kế thừa nhang án đá thời Trần (chùa Nhạn Tháp - Hưng Yên) niên đại năm 1573. Thời kỳ này nhang án cho thấy xu hướng yếu tố phương Nam đã được giải thể, bóng dáng Garuđa không xuất hiện nữa.

Hình dáng nhang án gỗ chùa Keo thế kỷ 17.
Hình dáng nhang án gỗ chùa Keo thế kỷ 17.

Như vậy về sự hình thành của nhang án có từ chất liệu đá, đất nung và đến thế kỷ 17 là thời kỳ nhang án được định hình rõ nhất trên chất liệu gỗ. Do đời sống văn hóa cùng nhu cầu tín ngưỡng theo đạo Phật có phần thay đổi, chùa của người Việt ngày càng nhiều, những chiếc nhang án đá thời trước đã không còn thích hợp mà thay vào nhang án được chuyển sang dùng chất liệu gỗ với sự thay đổi hình dáng phong phú hơn. 

Cũng như nhiều hiện vật gỗ khác, vì là chất liệu không bền vững nên trước thế kỷ 17 chưa tìm được đồ thờ bằng gỗ nào cho đến nay. Nhang án gỗ có niên đại sớm nhất từ thế kỷ 17 trở lại đây, trong Chùa Keo, Chùa Bút Tháp và Chùa Thầy… Thế kỷ 17 cũng là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của nghệ thuật dân gian.

Nhang án gỗ thế kỷ 17 trong chùa Việt Nam dường như không có sự phân định, chiếc nhang án (bàn thờ) của chùa cũng không khác nhiều so với đình hay đền… có nghĩa là không có nhang án nào riêng cho từng loại di tích tôn giáo. Tuy nhiên, sự khác nhau là khả năng và kỹ thuật tinh xảo của nghệ thuật chạm khắc cho từng nhang án, và sự khác nhau này lệ thuộc vào nhu cầu từng di tích cụ thể. Về cơ bản, sự khác nhau của nhang án là tỷ lệ và nghệ thuật trang trí cầu kỳ, tỷ mỉ.

Dạng nhang án hình hộp chữ nhật được sử dụng nhiều, điển hình như là nhang án Chùa Bút Tháp, Chùa Thầy, Chùa Keo… Đây là những chùa có nhang án được chạm trổ kỹ và đẹp nhất nước ta. Nghệ thuật trang trí vẫn được kế thừa và phát triển, nhang án được chạm kỹ hơn, thể hiện dưới dạng chạm nổi và chạm thủng, người nghệ nhân xưa đã có ý thức thẩm mỹ sâu sắc khi chạm khắc và phối hợp trang trí với nhau để làm nổi bật đề tài.

Đến thời Lê Trung Hưng thế kỷ 17, vị trí và chức năng của nhang án đã có sự thay đổi rõ rệt, về vị trí đặt của nhang án không ở một chỗ cố định như trước nữa bởi sự thay đổi về chất liệu được làm bằng gỗ, dễ dàng di chuyển và để phù hợp với từng loại hình di tích, ví dụ như nhang án gỗ Chùa Keo được đặt ở điện Thánh. Trong chùa, lúc này nhang án gỗ được thấy nhiều hơn ở những vị trí linh thiêng khác nhau, không phải chỉ có một chiếc như ở thời kỳ trước.

Ngoài vị trí đặt của nhang án trong từng di tích tôn giáo thì chức năng của nhang án gỗ thời này là để bát hương và đồ thờ cúng. Ở đây, người xưa thường quan niệm, nhang án là một biểu tượng của thế giới bên trên, người ta tìm đến chốn linh thiêng như chùa để gửi gắm lời cầu nguyện cũng như tâm tư, tình cảm và cầu mong một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Hình dáng, kết cấu và các họa tiết trang trí

Trong các ngôi chùa ở Bắc Bộ nước ta, những ngôi chùa hiện còn lưu giữ nhang án gỗ thế kỷ 17 không còn nhiều, nhưng còn lại đến nay đủ để có thể nhận biết được nghệ thuật trang trí nhang án thời này đặc sắc và đạt đến trình độ cao về giá trị nghệ thuật. 

Về cơ bản, những nhang án gỗ thế kỷ 17 trong chùa Bắc Bộ Việt Nam đều có kết cấu chung dạng hình hộp chữ nhật đứng với chân cao, nhiều trang trí bám theo nối từ phần gờ xuống đến chân của nhang án, tạo kiểu dáng khá riêng biệt, không hoàn toàn giống với nhang án đá ở thời Trần bằng chất liệu đá.

Hình dáng chung của nhang án với kết cấu ba phần chính gồm phần trên cùng, bề mặt nhang án được thể hiện to bè bằng những miếng gỗ nổi gờ và chạm hình cánh sen, phần thân thót lại nhỏ hơn so với bề mặt, phần này có nhiều đồ án trang trí chính là điểm tập trung trên nhang án. Phía dưới cùng là phần chân, phần này thường có độ cong bám xuống nền chùa và là nơi được chạm các biểu tượng vật linh như hổ phù, rồng…

Nghệ thuật trang trí nhang án gỗ thế kỷ 17 về cơ bản trang trí được gắn với ngôi chùa và các hiện vật trong chùa. Và nghệ thuật trang trí nhang án ở thời điểm này đánh dấu một giai đoạn phát triển đỉnh cao của nghệ thuật trang trí Phật giáo ở Việt Nam.

Trên một nhang án đã được kết hợp nhiều kiểu chạm khắc khác nhau, kiểu chạm bong, chạm kênh, chạm lộng, khối nổi, khối chìm… đồng thời, người nghệ nhân xưa khi thể hiện các chủ đề, môtip vẫn theo một quy tắc về sự sắp xếp các hình khối, họa tiết, đường nét một cách hài hòa để tạo nên một sự cân đối về thẩm mỹ và nghệ thuật cho nhang án.

Vẫn sử dụng những con vật linh trong trang trí mỹ thuật cổ như môtip hình rồng, phượng, lân, rùa… nhưng về hình dáng, rồng trở nên mập hơn, đa số có vẩy rõ ràng, cho thấy sự cân đối hơn ở các thời trước, đao rồng thường dài hơn, thân rồng chìm trong hệ thống đao mác… 

Thời này môtip hình rồng đao mác là đề tài chính ở hầu hết trên các mảng chạm khắc. Từ môtip hình rồng và cách tạo hình có thể xác định được niên đại cũng như phong cách giai đoạn lịch sử của nhang án.

Hình phượng nhang án gỗ thế kỷ 17.
Hình phượng nhang án gỗ thế kỷ 17.

Bên cạnh môtip con vật linh được hòa quyện với nhau một cách nhịp nhàng là môtip hoa lá: hình hoa sen cách điệu, hình mây, hoa cúc hay các dải đường diềm… 

Đây là những môtip được sử dụng thường xuyên trong nghệ thuật tạo hình của người Việt, tuy nhiên trong quá trình phát triển lịch sử, mỗi thời sẽ có sự thích ứng với loại hình và có quan niệm khác nhau. Nói chung, đề tài hoa lá thời này được thể hiện rõ ràng, hoa sen và hoa cúc được chạm một cách tỷ mỉ đều mang tính chất điển hình. 

Hoa sen thường được sử dụng rất nhiều trong nghệ thuật với cách thể hiện khác nhau, trải qua các thời kỳ, hoa sen được biến đổi nhất là từ thế kỷ 17 kết hợp hoa, lá với nụ một cách tự nhiên hơn.

Như vậy, thế kỷ 17 là thời kỳ nhang án được định hình rõ ràng nhất trên chất liệu gỗ, vì dễ dàng trong việc di chuyển cũng như công năng sử dụng của nhang án trong từng di tích tôn giáo mà nghệ thuật trang trí nhang án thời này được gọi là thời kỳ đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình dân gian. 

Trên chất liệu đá, về tạo hình hay chạm khắc khó thể hiện, đơn giản bao nhiêu thì ở chất liệu gỗ lại chi tiết và tỷ mỉ bấy nhiêu. 

Người xưa có thể đưa vào đó những ý niệm và sự sâu xa về tín ngưỡng, tôn giáo thông qua đề tài chạm khắc trên nhang án, phần nào phản ánh được một số nhận thức về vũ trụ và nhân sinh. 

Trang trí nhang án thời kỳ này đa dạng, phản ánh được nhiều nét của lịch sử, về những bước đi đã qua và về nghệ thuật tạo hình dân tộc, tạo nên một vẻ đẹp riêng chứa đựng những ý nghĩa sâu sắc, vốn có trong tín ngưỡng Việt Nam.

Nguyễn Thị Thu Hương

Các tin khác

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.