Nghệ thuật đúc đồng Đại Bái thế kỷ XX

Làng Đại Bái là một trong những làng đúc đồng có truyền thống lâu đời và đặc sắc, đồ thờ bằng đồng với nhiều mẫu mã đa dạng được thể hiện dưới nhiều hình thức đúc, chạm... tạo nên những sản phẩm đẹp, sắc nét, đạt chất lượng cao về kỹ thuật.

Thế kỷ XX thời kỳ đồ thờ bằng đồng phát triển và phong phú tiêu biểu như: Đỉnh đồng, bát hương, chân nến, mâm bồng, lọ hoa, chóe, đèn thờ...

Sự hình thành và phát triển làng nghề đúc đồng Đại Bái

Làng nghề đúc đồng Đại Bái hay còn gọi là làng Bưởi Nồi thuộc xã Đại Bái, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Ngôi làng nổi tiếng với những sản phẩm được đúc từ đồng như: Tượng đồng, đỉnh đồng, lư hương, lọ hoa, chân đèn, mâm bồng, chuông, khánh, tranh, câu đối… 

Theo các nguồn tài liệu và thư tịch cổ, nghề gò, giát đồng Đại Bái có từ đầu thế kỷ 11, ông tổ nghề là cụ Nguyễn Công Truyền (sinh năm 989, mất năm 1069). Khởi phát từ nghề đúc đồng thau, làng nghề được ông tổ nghề dạy cách đúc đồng làm các vật dụng đơn giản như thau, nồi, chảo…, dân làng tôn ông là "Tiền tiên sư", ông là người biết lo tổ chức sản xuất cho làng nghề và sáng tạo nhiều mẫu mã. 

Làng Đại Bái khi thành lập làng nghề có 4 xóm gồm: xóm Sơn, xóm Tây, xóm Giữa và xóm Ngoài. Thời kỳ đầu chỉ làm hàng gia dụng, đến thế hệ thứ 2 của làng nghề có 5 cụ người làng đỗ đạt tiến sỹ ra làm quan trong triều, quan tâm đến nghề của quê hương đã tổ chức thành lập các phường hội làng nghề, đi vào chuyên môn hóa. Kể từ đó 4 xóm làm 4 nghề khác nhau. Xóm Ngoài làm nghề gò nồi đồng, xóm Tây làm mâm, chậu, xóm Giữa làm cái siêu đun nước và niêu con, xóm Sơn làm âu đựng trầu và các đồ thờ.

Mâm đồng.
Mâm đồng.

Ngày nay dù đã có sự thay đổi khi đưa các máy móc, khoa học vào nghề, nhưng 4 thôn vẫn phân nghề theo truyền thống xưa. Nhờ có sự phân công lao động như vậy mà Đại Bái qua từng thời kỳ vẫn phát triển, đạt đến chuyên môn hóa chặt chẽ. Những kỹ thuật luyện đồng, sản phẩm ngày càng đa dạng, tinh xảo, kỹ thuật luyện đồng, pha chế đồng đạt tới độ chuyên sâu, mang bí quyết riêng. 

Khi khách tham quan đến làng nghề Đại Bái có thể chiêm ngưỡng rất nhiều sản phẩm mỹ nghệ từ đồng, ngoài việc chế tác đồng thủ công truyền thống, với việc tiếp cận các công nghệ chế tác hiện đại, dập khuôn hình, đánh bóng, phủ màu, phủ PU, làng nghề Đại Bái đã tạo ra nhiều loại sản phẩm phong phú với mức độ chi tiết tinh xảo và năng suất cao được thị trường ưa chuộng. 

Nếu trước kia Đại Bái chỉ sản xuất đồ thờ cúng thì nay đã chuyển sang các mặt hàng như: các loại tượng đồng, đỉnh đồng, lư hương, tranh tứ quý, bình hoa, các bộ đồ trà, các bộ đồ thờ, tranh chạm khảm… đòi hỏi kỹ thuật, mỹ nghệ cao, được xuất khẩu sang thị trường một số nước ở khu vực châu Á, Đông Nam Á.

Vì vậy, các sản phẩm tại làng nghề Đại Bái luôn có giá thành tốt và sức bền cao, lưu giữ được giá trị nghệ thuật thông qua việc chế tác hoàn thiện sản phẩm bằng thủ công, công nghiệp. 

Được hình thành trên khả năng sáng tạo, năng lực kinh nghiệm, những bí quyết làng nghề được truyền giao trong gia đình từ đời này sang đời khác, đã tạo ra những tay nghề với khả năng chuyên môn hóa thủ công đúc, chạm đạt đến kỹ thuật cao, sự khéo léo, tinh tế thể hiện qua từng nét chạm từ những khâu làm khuôn mẫu, kỹ thuật đúc, phôi của nghệ nhân để đảm bảo các đường nét thể hiện được cái hồn của sản phẩm.

Qua những thăng trầm, hoạt động làng nghề ở Đại Bái ngày càng mở rộng và phát triển. Nghề thủ công truyền thống ở Đại Bái đang bước sang giai đoạn mới, góp phần nâng cao đời sống người dân làng nghề với những hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân lớn nhỏ cùng sự cải tiến kỹ thuật, tự trang, tự chế ra máy móc như máy cán, máy dập, máy đánh bóng… tìm kiếm thị trường xuất khẩu trong và ngoài nước.

Các sản phẩm đồ thờ bằng đồng ở làng Đại Bái

Qua từng giai đoạn lịch sử cho thấy các đồ thờ bằng đồng là những sản phẩm văn hóa, chứa đựng những ước vọng tinh thần truyền từ đời này sang đời khác, những đồ thờ đó mang trong mình yếu tố tín ngưỡng, tâm linh để tồn tại và minh chứng cho các giai đoạn lịch sử, gắn với những bước đi của xã hội người Việt đặc biệt là lịch sử văn hóa.

Đình đồng.
Đình đồng.

Từ thế kỷ 19 trở về trước, đồ thờ được làm bằng chất liệu không được bền và bị mai một đến ngày nay, đồ thờ lưu giữ còn lại không được nhiều, chỉ có thể tìm thấy các hiện vật đồ thờ qua Bảo tàng lịch sử Việt Nam và môt số di tích… 

Đồ thờ thế kỷ 16, 17 thường được làm bằng chất liệu gốm, gỗ như là bát hương, đèn thờ, lân đội đèn, lân thờ, đài thờ..., bát đựng quả, tam sơn... ngoài ra chuông đồng là một trong những hiện vật được lưu giữ và để lại đều mang những bút tích của lịch sử đầy đủ và nguyên vẹn nhất, đây là hiện vật có từ thế kỷ 10. 

Qua mỗi thời kỳ chuông đồng đều được biến chuyển và thay đổi để gắn với chặng đường của lịch sử và văn hóa Việt. Ngày nay, chất liệu đồng vẫn luôn là một trong những chất liệu được sử dụng và dùng phổ biến nhất trên đồ thờ.

Trong nhận thức của người Việt, những đồ thờ được đặt trên ban thờ ngoài là vật dụng để phục vụ tôn giáo, tín ngưỡng còn mang trong mình một sự linh thiêng nhất định, chính vì thế mà khi lựa chọn hay đặt để những đồ thờ đều thể hiện sự trang nghiêm, kính bái đến thần linh... những quan niệm đấy mà đồ thờ bằng đồng luôn là sự lựa chọn hàng đầu và được ưu tiên hơn cả so với các chất liệu khác. 

Đồ thờ bằng đồng tiêu biểu như: Đỉnh đồng, bát hương, chân nến, mâm bồng, lọ hoa, do nhu cầu sử dụng mà được bổ sung thêm nhiều đồ thờ khác như chóe, đèn thờ...

Nhìn chung, các sản phẩm đồ thờ bằng đồng ở làng Đại Bái phải gắn với nền kinh tế thị trường - mỹ thuật truyền thống của dân tộc, qua mỗi giai đoạn lịch sử nó lại có sự thay đổi khác nhau về hình dáng và họa tiết trang trí cho phù hợp hoàn cảnh lịch sử của đất nước và có ảnh hưởng phong cách thẩm mỹ giai đoạn đó. 

Xong việc ảnh hưởng mỹ thuật và kiểu dáng sản phẩm đồ thờ bằng đồng không có sự thay đổi rõ rệt như các sản phẩm mỹ thuật khác ở đình - chùa, một phần vì chức năng sử dụng của sản phẩm nhỏ. 

Từ thế kỷ 18 đến nay cho thấy sự thay đổi đa dạng và phong phú về mẫu mã, cũng như kiểu dáng sản phẩm, ngày một tinh xảo, họa tiết phong phú đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ của nhiều tầng lớp xã hội trong cuộc sống.

Làng nghề Đại Bái ngày một phát triển mạnh, với nhiều hình thức phục vụ cộng đồng khác nhau, nhưng về cơ bản kiểu dáng, họa tiết và hoa văn trang trí chính thường vẫn sử dụng hình tượng truyền thống tứ linh, hoa lá, mây lửa…

Qua đó để thấy, từ nhiều ý nghĩa, quan niệm nghệ thuật trang trí đồ thờ bằng đồng ở làng Đại Bái thế kỷ 20 là sự chắt lọc về hình tượng, biểu tượng về tôn giáo, kết nối tư tưởng thẩm mỹ truyền thống của người Việt. 

Là một trong những làng đúc đồng có truyền thống lâu đời được hình thành và phát triển rộng rãi, phổ biến hơn ở các thời kỳ trước về mặt chất liệu, mẫu mã sản phẩm đa đạng và phong phú, nghệ thuật trang trí cũng như công năng sử dụng của sản phẩm đồ thờ bằng đồng với đời sống, văn hóa, tôn giáo tín ngưỡng. 

Vị trí đặt để của đồ thờ bằng đồng trên ban thờ phù hợp với từng di tích tôn giáo nó còn thể hiện sự linh thiêng, trang trọng, mang tư tưởng, ý niệm của con người đến thần linh.

Nguyễn Thị Thu Hương

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.