Nghe thấy một tiếng vọng

Nhà thơ Trần Lê Văn tên thật là Trần Văn Lễ. Ông sinh ra ở làng Vị Xuyên (Nam Định), cái làng quê có con sông Vị Hoàng mà "Sông kia rày đã lên đồng" như trong thơ Tú Xương. 

Tâm hồn nhà thơ vốn mong manh, chới với.

Có ai nghe thấy một tiếng vọng
Thì thả con thuyền sang với tôi

Mỗi lần đọc câu thơ trên của nhà thơ Trần Lê Văn, tôi lại một lần bần thần xúc động. Với ai, chứ như con người ông đủ bản lĩnh, đã từng chịu bao thăng trầm, bao phiền muộn; ấy vậy cũng phải kêu lên một tiếng kêu chới với. Hai câu thơ trên trong bài thơ "Tiếng vọng" viết năm 1986, khi ông đã  sáu mươi ba tuổi. Xem ra, đủ thấy nỗi buồn không dành cho riêng ai và nó cũng chả kiềng tuổi tác nào.

"Có ai nghe thấy một tiếng vọng", người đọc đủ biết, không phải đơn thuần tiếng gọi đò, mà đây là tiếng gọi tìm bạn tri âm tri kỷ. Sự đời, tiếng gọi đò, đò sang, đã là khó. Ở đây, tiếng gọi lòng, tiếng tri âm tri kỷ, thì càng khó biết bao nhiêu. Ai sẽ là đồng vọng tiếng gọi kia, để thả con thuyền tri âm sang? Xem ra, con người, nhất là  thi nhân, thì sự mong manh, chới với, cô liêu thăm thẳm biết nhường nào.

 Nhà thơ Trần Lê Văn tên thật là Trần Văn Lễ. Ông sinh ra ở làng Vị Xuyên (Nam Định), cái làng quê có con sông Vị Hoàng mà "Sông kia rày đã lên đồng" như trong thơ Tú Xương.

Lớn lên trong gia đình nhà nho, ông sớm được học và tiếp thu, ảnh hưởng của nho giáo do người cha truyền lại. Đến bậc trung học, lại được học tiếng Pháp. Vì thế văn hoá Đông Tây sớm ảnh hưởng tới nhận thức của ông. Trong tâm sự, ông có nói về kiến thức của mình thuộc "tầm tầm bậc trung". Ông tự nhận có ảnh hưởng của trào lưu Thơ Mới và các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn. Chất trữ tình trào lộng thấm sâu trong nếp nghĩ, lối sống của ông.

Nhà thơ Trần Lê Văn.
Nhà thơ Trần Lê Văn.

Ông là người hoạt động văn học sớm. Năm 1948, bài thơ "Qua sườn Tam Đảo" của ông đã được giải nhì của Hội Văn nghệ Liên khu III. Năm 1951, bài thơ "Rang thóc" của ông được giải nhì của Hội Văn nghệ Việt Nam. Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1957. Trước khi làm công tác văn nghệ, ông từng công tác trong ngành giáo dục ở Sơn La. Vì vậy, miền đất này có nhiều ảnh hưởng đến sáng tác và đời tư của ông. Ông cũng từng là cán bộ biên tập ở Nhà xuất bản Hội Nhà văn và Tuần báo Văn nghệ.

Tôi được biết ông khi ông về công tác ở Sở Văn hóa Hà Tây, sau thời gian dài làm việc ở Hà Nội mà ông có gặp nhiều trắc trở. Đấy là năm 1977, ông biên tập tập sách khảo cứu "Nghề đẹp quê hương", tập sách viết về các nghề thủ công truyền thống, tôi có được tham dự bài vở.

Theo tôi, thời điểm ấy, đấy là tập sách đầu tiên nghiên cứu công phu về nghề thủ công truyền thống của một địa phương. Trong tập, nhà thơ Trần Lê Văn có hai bài viết nghiên cứu, giới thiệu về nghề dệt gấm và nghề chạm gỗ khá kỹ lưỡng, nhiều tư liệu quý.

Tập thơ đầu tiên của nhà thơ Trần Lê Văn là tập "Rừng biển quê hương", in chung với nhà thơ Quang Dũng, năm 1957. Ông là người viết cẩn thận. Sau hơn hai mươi năm, năm 1979, ông mới cho ra mắt bạn đọc tập thơ thứ hai, tập "Giàn mướp hương". Năm 1987, in tập thơ thứ ba, có bài thơ "Tiếng vọng" (đồng thời là tên tập sách) mà nhiều bạn văn tâm đắc.

Không làm được thơ ngắn
Đành phải làm thơ dài
Khó nói bằng im lặng
Đành phải nói bằng lời...

Mối tình tri âm tri kỷ trong văn đàn có nhiều. Nhưng tình thâm giao bộ ba Quang Dũng - Trần Lê Văn - Ngô Quân Miện thì nhiều người trong giới văn chương phải ghi nhận. Hình như cả ba nhà thơ này cùng lắm nỗi lận đận trong phận đời và phận đạo. Ba nhà thơ, ba dáng vóc bề ngoài khác nhau. Người cao người thấp, người béo người gầy, ấy vậy, tâm tình ba người như một. Điều tôi nghĩ đáng noi theo, là cả bộ ba này rất ít khi các ông nói về nỗi truân chuyên, lận đận của đời mình.

Sinh thời, nhà thơ Quang Dũng nói, đời sống vốn tự nó đã vất vả, nói lại vất vả làm gì cho nó nặng lòng. Bộ ba nhà thơ này, qua các trang viết hình như chỉ nói nhiều đến niềm vui và sự tin yêu. Phải chăng, các ông thấy nên làm như thế, phải làm như thế, để cuộc sống đáng yêu hơn. Bộ ba nhà thơ này chơi thân nhau từ năm đầu hoà bình lập lại trên miền Bắc. Họ như hình với bóng của nhau. Năm 1988, thương nhà thơ Quang Dũng lâm bệnh mất, hai nhà thơ còn lại càng gắn bó với nhau hơn.

Nhà thơ Trần Lê Văn luôn có ý thức với cường độ lao động nghệ thuật của mình. Ngoài sáng tác thơ, ông còn viết bút ký, khảo cứu. Các tập "Thung mơ Hương Tích" (1974); "Sông núi Điện Biên" (1979); "Hoa Hà Nội" (1981); "Gương mặt Hồ Tây" (1984)... là những tập bút ký giàu tư liệu và giàu chất văn. Ngoài ra, ông còn tham gia dịch thơ chữ Hán, đi nói chuyện thơ ở nhiều địa phương.

Tự xác định mình là nhà hoạt động văn hoá, ông không màng chức tước, tiền bạc, ông dồn tất cả tâm sức cho lao động nghệ thuật. Tám mươi tuổi, ông vẫn ham đi thực tế. Qua mỗi miền đất, ông đều muốn ghi chép lại cảm xúc, suy tư, trải nghiệm của mình. Trong một bài thơ viết cuối xuân 1986, ông tâm sự:

Những tháng ngày qua không nghỉ ngơi
Đường đi mải miết chẳng rong chơi...

Thời chống Mỹ cứu nước, đời sống các nhà văn, nhà thơ đều vất vả. Ấy vậy, niềm tin yêu cuộc sống thì thật cao. Năm đầu chống Mỹ, nhà thơ đã vững bước tiễn con ra trận, để rồi người con trai của nhà thơ mãi mãi không về. Anh đã hy sinh cho Tổ quốc. Trong một chuyến đi thực tế đường Trường Sơn, ông bàng hoàng thương con trai mình:

Ngã xuống nơi nào? Đau lắm không con?
Cha chẳng thể đỡ con ngồi dậy được!

Qua thơ, ông giãi bày nỗi lòng riêng của ông:

Trưa hè ấy, cha tiễn con lên đường
Chia tay mà vĩnh biệt!
Chỉ biết nhìn trời muôn vạn vì sao
Thôi đành cậy nhờ thăm thẳm tầng cao
Muôn vạn vì sao làm muôn vàn nến thắp
Những ngọn nến không bao giờ tắt
Cho ấm nơi đất lạnh, con nằm

Gặp gỡ ông, bề ngoài, luôn thấy sự nồng nhiệt, da diết, như để lấp đậy tâm tư chất chứa bên trong. "Quơ lấy vui buồn ôm trĩu tay". Sau phút giây băn khoăn, là nỗi niềm nhỏ nhẹ, khiêm nhường.

Trong báo trong thơ thường thấy tên
Cốt là họp mặt với anh em


Rồi con người thi sỹ lại thôi thúc ông:

Nhiều quyển sách hay, bao giờ đọc?
Nhiều vùng đất đẹp, bao giờ thăm?
Bài thơ hay nhất, bao giờ viết?

Đọc những dòng thơ này, tôi hoàn toàn tin đó là tâm sự thật của ông, tâm tư một nhà thơ hết lòng với cuộc sống.

*            

Nhà thơ, như luôn chấp nhận sự trớ trêu của số phận.

Buổi chiều mưa phùn lây rây, nhà thơ Lữ Giang lọc cọc  đạp xe đến nhà tôi, báo tin: "Ông Văn bị cưa mất một chân rồi!". Tôi vội đến thăm ông. Ngôi nhà tĩnh lặng lùi sau dãy phố buôn bán ồn ã. Nhà thơ  vật vã đau đớn, gầy guộc, già nua, nằm trên chiếc giường ở căn phòng nhỏ có giá sách xếp ngay ngắn. Trong cơn đau nhức nhạt nhoà, nom ông mà vô cùng ái ngại.

Tôi nhìn bốn bài thơ xuân ông chép trên giấy điều, dán cạnh giường nằm, như để tự nhủ mình. Tôi thêm thấy niềm tin và nghị lực sống ở ông. Phải lúc lâu, qua cơn đau, ông mới gượng nói được, là tiếc quá bàn chân vừa bị cắt bỏ. Bệnh hoại thư trước kia đã cướp cả tứ chi nhà thơ tài hoa bạc mệnh Trần Huyền Trân, nay lại cướp đi bàn chân nhà thơ Trần Lê Văn.

Ông lại nhớ nhà thơ đi nạng Hoàng Tố Nguyên, bạn ông. Rồi ông mong sớm phục hồi sức khoẻ, để sớm được lắp chân giả, để lại đi tiếp con đường gập ghềnh, đầy vất vả và cũng lắm mộng mơ của nghiệp chữ nghĩa mình đã chọn.

Bà Văn kể rằng, dứt cơn đau, ông Văn lại nói thèm đi đây đi đó. Bà biết tính của ông, người viết phải nằm một chỗ là buồn bực vì bó chân bó cẳng. Bà thèm bạn của ông đến chơi, chuyện trò, để ông khuây khỏa. Mà những người bạn thân của ông Văn ngày cũng đi vợi dần. Những người còn lại cũng ốm đau, già yếu cả. Tuổi già, buồn bã nó cứ đến sầm sập. Bà kể, một hôm trên đường Trần Quốc Toản, nhìn thấy bóng dáng người đàn ông cao cao, đi xiêu xiêu, mệt mỏi. Bà nhận ra đấy là nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh, bạn của chồng mình. Bà càng chạnh lòng thương chồng, thương các nhà thơ, nhà văn trang lứa chồng mình khi tuổi quá chiều.

Nhà thơ Trần Lê Văn mất năm 2005, hưởng thọ 83 tuổi. Nhà thơ Ngô Quân Miện, người bạn chí cốt nói về sự ra đi của nhà thơ Trần Lê Văn, ấy là "Trái tim tất bật" đã chấp nhận nghỉ yên. Nhà thơ Trần Lê Văn miệt mài lao động sáng tạo cho đến giây phút cuối cùng.

Mỗi lần nhớ về nhà thơ Trần Lê Văn, tôi lại nhớ câu thơ gan ruột của ông gửi mọi người "Có ai nghe thấy một tiếng vọng...". Tôi nhận thấy, đấy là nỗi cô đơn, chới với, mong manh của thân phận thi sỹ nhỏ bé trong cõi nhân gian rộng lớn, mênh mang.

Vũ Từ Trang

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.