Nghệ sĩ Tự Huy: “Người cầu may” không gặp may

Tự Huy (1940 - 2015), nguyên là diễn viên, đạo diễn của Xưởng Phim truyện Hà Nội (nay là Hãng Phim truyện Việt Nam). Về xuất thân, Tự Huy là hậu duệ trực hệ của Nguyễn Siêu - một danh nhân của đất nước ta, quê ở làng Lủ, huyện Thanh Trì, Hà Nội...

Người có tài, có trí, lại nỗ lực, miệt mài, cộng thêm cơ may, có “quý nhân phù trợ” thường thành đạt, có sự nghiệp đáng kể, được nhiều người biết đến. Nhưng cũng không ít người có đủ tài, đức, trí, làm việc cũng hăng say, vậy mà rút cuộc vẫn bị chìm bên cạnh những người khác có khi còn thua kém họ về mọi mặt. Không hẳn những người này ai cũng bị “dìm” do thói đố kỵ, tiểu nhân thường tình. Quả là khó giải thích. Người nghệ sỹ nói đến trong bài viết này thuộc trường hợp như vậy.

Ông là Tự Huy (1940 - 2015), nguyên là diễn viên, đạo diễn của Xưởng Phim truyện Hà Nội (nay là Hãng Phim truyện Việt Nam). Về xuất thân, Tự Huy là hậu duệ trực hệ của Nguyễn Siêu - một danh nhân của đất nước ta, quê ở làng Lủ, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Ông học lớp diễn viên điện ảnh khóa 1 cùng những tên tuổi gạo cội như Trần Phương, Quang Thái, Lâm Tới, Trà Giang, Tuệ Minh…

Thời trẻ, ông tham gia đóng vai phụ trong một số phim như “Chung một dòng sông”, “Chị Tư Hậu”… Là đạo diễn không ít phim: “Ngày về”, “Người cầu may”, “Vua Minh Mạng”, “Núi tương tư”… Ngoài ra còn viết nhiều kịch bản điện ảnh.

Nghệ sĩ Tự Huy (bên phải) khi còn trẻ.
Nghệ sĩ Tự Huy (bên phải) khi còn trẻ.

Năm 1963, tôi học lớp 10 phổ thông (hệ 10 năm) ở Trường Chu Văn An (Hà Nội), có chân trong đội kịch của trường. Hồi đó, tôi được thầy giáo dạy môn văn trao nhiệm vụ chuyển những trích đoạn học trong chương trình thành kịch để đưa lên sân khấu nhằm minh họa cho các bài học. Nhưng phải có người dàn dựng. Thầy phụ trách văn nghệ đã mời một vài người ở Đoàn kịch Thành đoàn, rồi Kịch nói Hà Nội đến giúp việc này. Nhưng chúng tôi đều không khoái do cách đạo diễn của họ không khiến chúng tôi tâm phục, khẩu phục. Thế là phải tìm người khác.

Tối hôm ấy, trong một buổi tập theo lịch, tôi thấy một anh còn rất trẻ, chỉ hơn tôi chừng 6 -7 tuổi, trông rất quen, được thầy đưa đến và giới thiệu là Tự Huy - diễn viên điện ảnh, công tác ở Xưởng Phim truyện Hà Nội. Tôi nhớ ra anh sắm một vai phụ là người lính ngụy có tên Tám Tân trong phim “Chị Tư Hậu" đang chiếu ở khắp các rạp chiếu bóng tại Hà Nội khi đó.

Sở dĩ tôi nhớ được nhân vật lính ngụy này tuy chỉ xuất hiện chưa đến 1 phút trên màn ảnh vì người diễn viên vào vai đã khiến tôi khá ấn tượng với bộ râu con kiến, đôi mắt hấp háy. Anh lính ngụy này tốt bụng, đã cho chị Tư Hậu và đồng đội đi qua trạm gác của mình. Thế là tôi có cảm tình luôn với Tự Huy và rất tin là anh sẽ đạo diễn tốt cho chúng tôi vào các vai kịch.

Quả như vậy, anh phân tích “kịch bản” (của tôi) rất sâu sắc và đặc biệt là thị phạm – tức diễn mẫu cho chúng tôi bắt chước – rất hay. Phải nói là đứa nào trong đội kịch nhà trường cũng há hốc mồm theo dõi. Chúng tôi đã rất hào hứng tập theo hướng dẫn của anh và thấy buổi tập trôi đi quá nhanh.

Sau đó, tôi xem rất nhiều phim Việt Nam nhưng không thấy Tự Huy vào vai chính nào. Tất cả đều là vai phụ, lại xuất hiện rất ngắn ngủi, không đủ để khán giả nhập tâm. Hết lớp 10, tôi vào học Đại học Tổng hợp, ngành Văn (nay là trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn). Học ở nơi sơ tán trên Thái Nguyên suốt 4 năm, tôi rất nhớ người diễn viên chỉ đóng những vai phụ trên màn ảnh khiến mình ngưỡng mộ và yêu quý.

Cũng từ anh mà tôi trở nên đam mê thêm cả sân khấu bên cạnh tình yêu âm nhạc vốn có từ nhỏ (Tự Huy còn vào vai người dẫn chuyện rất hay trong vở kịch nói “Trung phong chết lúc rạng đômg” do Đoàn kịch Điện ảnh đang diễn ở Nhà hát Lớn khi đó).

Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi tìm đến chơi với Tự Huy tại nhà riêng của anh ở phố Nguyễn Siêu – chính là tên danh nhân lớn mà anh là hậu duệ như đã nói. Anh nhận ra tôi ngay với câu nói rất hóm: “Ô! Chào lý trưởng xã Ngũ Vọng. Gió nào đưa ngài tới đây? Đến một mình hay cùng với bà Phó Bính, con mẹ Phô Gái?". (Những nhân vật của Nguyễn Công Hoan trong truyện “Tinh thần thể dục”).

Sau hơn 4 năm, anh vẫn còn nhớ chúng tôi đóng kịch như vừa mới hôm qua. Vợ chồng anh ở tầng 2 ngôi nhà tuy không chật hẹp nhưng xuềnh xoàng, sàn gỗ đã cũ, các kẽ ghép đã hở huếch hoác, có thể nhìn được xuống nhà dưới nếu ghé sát mắt. “Bà xã” của anh khi ấy là Đoàn Lê - sau này là một nữ văn sỹ có danh. Khi đó Đoàn Lê đã có bài thơ “Bói hoa” khá nổi tiếng được nhiều cô gái thích thú. Chị cũng học khóa diễn viên điện ảnh khóa 1 nhưng lại trở thành họa sỹ thiết kế mỹ thuật ở Xưởng phim chứ không làm diễn viên mặc dù cả tài lẫn sắc không hề kém cạnh (lại là cái… số!).

Tự Huy tiếp cậu tân cử nhân văn chương rất tự nhiên, thân mật, giữ tôi ở lại ăn cơm. Và tôi vô cùng ấn tượng những câu thơ anh làm. Anh uống rượu như các cụ nhâm nhi, xong rít một hơi thuốc lào sòng sọc rồi đọc: “Quê ơi là quê/ Lúc miền đang quê/ Làng tre tóc/ Giọt sương nóc…”.

Nghệ sĩ Tự Huy tại quê nhà những năm cuối đời.
Nghệ sĩ Tự Huy tại quê nhà những năm cuối đời.

Anh có cách nói thật lạ. Sao lại “Lúc miền đang quê”? Tre thì được anh quan sát như những sợi tóc. So sánh như vậy đã là rất độc đáo. Nhưng thú vị và cực kỳ ấn tượng hơn là cách anh sắp xếp từ ngữ: “Làng tre tóc” và “giọt sương nóc”. Anh nói đó chính là quê anh ở làng Lủ, cách nơi anh đang sống (phố Nguyễn Siêu) chỉ chừng hơn mười cây số và nói có dịp sẽ đưa tôi về chơi.

Rõ ràng anh có cách nói không giống bất cứ nhà thơ tài ba nào. Không hẳn là bí hiểm, khó hiểu như thơ của nhóm “Xuân thu nhã tập” xưa kiểu như “Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà” (Nguyễn Xuân Sanh). Không hẳn là “làm xiếc” chữ nghĩa một cách cầu kỳ, rối rắm mà thơ của Tự Huy đã gây cho tôi nỗi ám ảnh. Tôi hoàn toàn cảm nhận được những gì anh định nói, định biểu hiện trong mỗi bài thơ. Chỉ có điều tôi không dễ nói lên được bằng lời lẽ thật cụ thể. Hôm đó, người “diễn viên vai phụ” đã đọc cho tôi nghe nhiều bài. Bài nào tôi cũng thích. Tất nhiên không thể trích được nhiều ra đây.

Tiếc rằng hồi đó chưa có dịch vụ copy, chưa có máy vi tính nên tôi không thể xin thơ của anh để mang về nhà đọc. Anh đã giở cuốn sổ bé xíu, giấy nhàu nhĩ, đọc cho tôi những bài anh lưu trong đó. Nhiều bài dập, xóa, chưa được anh chép lại cẩn thận. Học ở Tổng hợp Văn, chúng tôi được tiếp xúc với rất nhiều thơ văn ở trong nước cũng như trên thế giới, lại đi sâu tìm hiểu thơ của nhiều tác giả lớn.

Nhưng tôi vẫn không thể quên thơ của Tự Huy mặc dù cho đến bây giờ khi anh đã về cõi vĩnh hằng, anh không có danh hiệu nhà thơ với cái nghĩa thông thường là có những tập thơ trình làng cho nhiều người đọc hoặc là hội viên Hội Nhà văn. Và chắc chắn không thể có nhiều người biết thơ anh như tôi đã hân hạnh được biết. Mãi tới những năm cuối đời, trước khi Tự Huy mất mấy năm, tôi mới có dịp gặp lại anh khi đã ở tuổi “cổ lai hy”.

Lúc này anh đã yếu nhiều. Gương mặt điển trai, hơi xương xương với đôi mắt sâu, lông mày cong, rậm dài như của phụ nữ ngày trước lúc này lại càng hốc hác. Trông anh có phần tiều tụy do nhiều năm sống cô đơn sau khi “người tình bỏ ta đi như những dòng sông nhỏ”. Nhưng niềm yêu say thơ thì không kém gì thuở trai trẻ. Anh lại đọc cho tôi nghe những câu làm sau này: “Cây vải sau chùa/ Tôi không ngút lúa/ Không dạo đầu đê/ Mà con tu hú/ Đừng sinh sự gì/ Tôi về…/ Tôi lại đi…”.

Như đã nói, sự nghiệp làm diễn viên chẳng tới được đâu, Tự Huy xắn tay làm đạo diễn. Trong số những phim anh làm cũng có được “Người cầu may” giành giải đạo diễn xuất sắc nhất tại một Liên hoan phim quốc tế tổ chức ở New Delhi. Đó là một giải danh giá, không phải đạo diễn có tên nào ở Việt Nam cũng đạt được. Hồi đó, bạn bè đồng nghiệp đều gọi anh là “Người cầu may” thay vì Tự Huy (giống như gọi Trà Giang là chị Tư Hậu, gọi Trịnh Thịnh là ông Củng..).

Vậy mà mỗi khi nhắc đến các đạo diễn điện ảnh Việt Nam, người ta thậm chí đã nhắc đến cả những người chỉ làm một, hai phim rất xoàng, chẳng ai để ý, nhưng đã không đả động gì đến Tự Huy, cứ như anh chưa bao giờ là đạo diễn. Anh cũng là tác giả của hàng chục kịch bản mà tôi được đọc một, hai cái trong đó thấy hay, nhưng đã chẳng có cái nào trở thành phim. Và công chúng cũng chẳng thể biết được anh là một nhà biên kịch.

Hẳn là người ngoài cuộc sẽ nghĩ chắc tự Huy bị vô hiệu, chèn ép nên không phát huy được tác dụng. Cũng không hẳn thế. Ai có dịp chơi, thưởng thức những gì Tự Huy sản xuất ra (thơ, kịch bản, phim do anh đạo diễn), lại có “gu”, công tâm và khách quan sẽ thấy anh thực sự có tài, đích thực và phong phú. Nhưng Tự Huy đã chìm nghỉm giữa một đội ngũ nghệ sỹ hùng hậu nước nhà mà không phải ai cũng xứng với sự nổi danh của họ. Âu cũng là … cái số của Tự Huy - cái số của “người cầu may” mà chẳng hề may mắn!

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.