Nghệ sĩ Phan Vũ: Đa tài, đào hoa và sự chung thủy

Giới văn nghệ lắm người đa tài, lãng tử, đào hoa. Một trong những người khá tiêu biểu thuộc thế hệ cây đa, cây đề là cố nghệ sĩ Phan Vũ (1926 - 2019). Chỉ có thể gọi ông là nghệ sĩ mà không thể là một "nhà", một "sĩ" gì cụ thể bởi ông có quá nhiều danh hiệu gắn với nhiều lĩnh vực: Thơ, văn, biên kịch, đạo diễn, họa sĩ.

Phan Vũ nổi tiếng từ lâu. Giới điện ảnh và sân khấu nhiều người biết những vở kịch nói "Lửa cháy lên rồi", "Bà mẹ và thanh gươm" do ông viết kịch bản và các phim "Dòng sông âm vang" (biên kịch), "Bí mật thành phố cấm", "Như một huyền thoại" (đạo diễn) ra đời từ những năm 60 của thế kỷ trước.

Năm 30 tuổi (1956) ông làm bài thơ đầu tiên có tên "Bình vỡ" với những lời lẽ thật thảng thốt: "Chỉ còn màu xanh trên từng mảng nhỏ/ Sao đâu đây phảng phất mùi hương thơ ngây?..". Một giọng thơ sớm có bản sắc khiến người đọc bị ám ảnh ngay với những câu thơ Phan Vũ tự họa chân dung: "Gã - xòe tay che một đời mưa/ Một đời nắng chân trần rất bỏng/ Sợi thòng lọng trên đầu phận số/ Chênh vênh bờ vực lối đi về...".

pv và nguời vợ thứ 2 -dc.jpg -0
Phan Vũ và người vợ thứ 2 Diễm Chi.

Nhưng phải đến năm 1972, ông mới đóng đinh chắc chắn vào tâm thức người đọc bằng bản trường ca "Hà Nội phố" gồm 443 câu. Người ta đều dễ dàng gật gù tâm đắc khi nghe ông tự đọc bài này nhưng để thực sự nổi tiếng trong lĩnh vực thơ thì phải đợi sau khi có bài hát cùng tên của Phú Quang phổ thành ca khúc. Từ lời ca của bài hát, người ta tìm đọc kỹ thơ Phan Vũ thì thấy bản sắc riêng khá rõ trong các tập thơ ông đã cho ra đời là "Hà Nội - phố" và "Ta còn em".

Trong một lần tiếp xúc, Phan Vũ đã kể cho tôi nghe cơ duyên ra đời bài thơ trên. Đó là những ngày cuối cùng của năm 1972, đúng dịp lễ Nôen, bế tắc trên bàn đàm phán tại Hội nghị Paris, đế quốc Mỹ quyết định ném bom B52 ra Thủ đô Hà Nội. Đêm đó, cả Hà Nội rung chuyển. Những cột lửa ngút trời bốc lên phía phố Khâm Thiên. Sau đêm đó, Phan Vũ đến phố này, chứng kiến cảnh tan hoang, đổ nát. Một sự căm thù, tức giận dâng trào.

Ông quay về nhà, ngồi ngay vào bàn viết trường ca "Hà Nội - phố". Ông nói với tôi: "Cậu biết không, lúc trở về nhà ở phố Hàng Bún, trong đầu mình quay cuồng ý nghĩ: Chúng mày dọa cho Hà Nội trở về thời kỳ đồ đá cũ ư? Được, cứ làm đi, chúng tao có thể mất tất cả, nhưng sẽ không thể mất một Hà Nội kiêu hùng, hào hoa với mọi màu sắc, hương vị, với mùi hoa hoàng lan, hoa sữa... Lúc đầu mình định viết điệp khúc là "Tao còn em... Tao còn em...", nhưng về sau, bình tĩnh lại, thấy viết thế rất kỳ, không ổn nên mới sửa lại là "Ta còn em". Phan Vũ cũng ghi nhận tài năng của Phú Quang trong việc phổ bài thơ rất dài này: Cậu ấy chỉ lẩy ra mấy câu thơ trong cả một bài gần 500 câu mà thâu tóm được hết ý tứ của mình".

Những năm cuối đời, bắt đầu từ năm 70 tuổi, Phan Vũ lao vào thú đam mê hội họa với hàng trăm bức tranh đã vẽ chủ yếu là chất liệu sơn dầu. Tranh của ông rất hiện đại, tiếp cận được với giới họa sĩ trẻ. Ông đã tổ chức được tất cả 9 cuộc triển lãm ở trong nước và nước ngoài. Không học ở đâu, nhưng giới mỹ thuật đánh giá tranh của ông vẽ rất chuyên nghiệp với nhiều sáng tạo độc đáo.

Phan Vũ có tên khai sinh là Trần Hồng Hải, sinh năm 1926 ở Hải Phòng. Nhưng đây không phải là quê mà chỉ là nơi ông sinh ra. Ông nói về gốc gác của mình thật hài hước trong một cuộc triễn lãm tranh: "Nhiều người thấy tôi viết "Hà Nội - phố" cứ tưởng tôi quê Hà Nội. Nhưng không phải mà tôi có gốc gác ở Đà Nẵng. Bố tôi từ Đà Nẵng chẳng hiểu duyên cớ nào mà lại sang bên Pháp mấy năm. Rồi về Hải Phòng và gặp mẹ tôi cũng từ Đà Nẵng phiêu bạt ra đây. Rồi hai người gian díu với nhau, sinh ra tôi. Tôi chẳng có ý niệm gì về Đà Nẵng mà thấy mình như người Hà Nội. Có lẽ vì tôi gắn bó với nơi đây nhiều năm, từ 1954 đến 1990 rồi khi trở vào TP Hồ Chí Minh sinh sống".

Cuối năm 1946, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, ở tuổi 20, Phan Vũ từ Hải Phòng đi bộ đội rồi Nam tiến. Ông làm công tác văn nghệ ở Tây rồi Đông Nam bộ. Năm 1954, tập kết ra Bắc, làm việc ở xưởng phim truyện Hà Nội cho đến khi về hưu.

Phan Vũ có dáng vẻ một chút lãng tử, một chút bụi bậm, phong trần, một chút ngang tàng. Bên ngoài có vẻ xù xì và chút dữ dằn nhưng tâm hồn, tính cách lại đôn hậu, hiền hòa. Râu thì gần như không bao giờ cạo, cứ để mọc tự nhiên tua tủa nhưng tóc thì luôn thay đổi: lúc để dài như phụ nữ, lúc cho mọc tuỳ tiện, khi lại cạo trọc lốc như đầu nhà sư. Có lẽ vì cái dáng vẻ rất "đa dạng" đó cộng với tài năng hiếm thấy và tấm lòng luôn chân thật của ông mà khiến phụ nữ rất ưu ái, sẵn sàng ngã vào vòng tay người nghệ sĩ ngay cả khi đã ở bên kia dốc cuộc đời.

Thời gian người vợ đầu của ông là diễn viên điện ảnh nổi tiếng Phi Nga (người sắm vai Hoài trong phim truyện đầu tiên của Việt Nam "Chung một dòng sông") đã qua đời (1985), tôi hay đến chơi với ông. Hầu như tôi luôn thấy có những cô gái xuất hiện ở nhà ông. Lúc này ông đã ở tuổi 60. Họ đều có vẻ muốn sẵn sàng nâng khăn sửa túi cho người đàn ông vừa góa vợ. Nhưng ông chỉ coi họ như con, em, học trò. Tôi hỏi ông rằng cô nào cũng khả ái, sao không chọn lấy một thì ông nói hình ảnh vợ vẫn còn quá sâu đậm, ngày đêm ông vẫn luôn tơ tưởng, nhớ thương thì làm sao có thể sống được với ai. Phải để thời gian trôi qua, lâu dần may ra "năm tháng nguôi dẫn chuyện xót đau" thì khi ấy sẽ hay.

Được nhiều phụ nữ "nhòm ngó", vo ve nhưng khi Phi Nga còn sống, Phan Vũ hoàn toàn nghiêm túc, thủy chung, không có biểu hiện gì của sự "rung rinh", "la đà" mỗi khi không có vợ bên cạnh. Chẳng những vậy, ông còn là một người chồng rất ân nghĩa, tận tụy lo cho vợ. Phi Nga bị bệnh tim từ rất sớm, rồi bị tai biến dẫn đến liệt toàn thân. Ông phục vụ vợ chu đáo, luôn chở rồi cõng vào xem phim hoặc các buổi biểu diễn nghệ thuật mà vợ thích. 20 năm đằng đẵng chăm sóc vợ như thế khiến bạn bè, đồng nghiệp rất nể, trọng. Mỗi khi kể lại chi tiết sau đây, Phan Vũ vẫn ứa nước mắt. Đó là khi không còn nói được do tai biến, Phi Nga vẫn ú ớ gọi: "Vũ!" và chỉ một tiếng duy nhất đó.

Một bức tranh của Phan Vũ.

Phi Nga mất năm 1985 ở tuổi 49 sau 20 năm đổ bệnh. Thương nhớ vợ, Phan Vũ làm bài thơ "Đã có lần anh nói thương em" có những câu thảm thương, day dứt: "Câu nói buồn hơn tiếng khóc/ Nước mắt vẫn là chút trống không/ Hòn đá nhỏ lăn vào vô định/ Lời chì chiết tội tình/ Gửi lại mãi trong anh...?". Tác giả đề từ là "Gửi theo hương hồn Phi Nga". Sau khi vợ mất đã khá lâu, có hai lần, Phan Vũ lại làm thơ về vợ, trong đó có hai câu khá ấn tượng: "Tờ lịch chia thành từng tháng vỡ/ Vô nghĩa ngày xuân hay tháng hạ".

Quá buồn, thấy mọi thứ trong ngôi nhà của mình đều gắn với những kỷ niệm liên quan đến vợ, 5 năm sau (1990) Phan Vũ quyết định vào cư trú ở TP Hồ Chí Minh khi đã ở tuổi 64. Môi trường mới khiến ông vơi dần nỗi buồn đau. Qua tiếp 9 năm sống độc thân với nhiều bóng hồng xuất hiện, đều sẵn sàng muốn làm "em" Phi Nga, nhưng duyên mới vẫn chưa đậu nơi trái tim vốn dĩ đa cảm của người thi sĩ kiêm họa sĩ đất Bắc thì một ngày kia...

Con gái của Phan Vũ có người bạn nữ thân thiết tên Diễm Chi làm việc ở Báo Phụ nữ TP. Hồ Chí Minh. Cô gái này lo chuyên mục "Trò chuyện với người nổi tiếng" ngỏ ý muốn nhờ bạn mình bắc cầu để gặp Phan Vũ, thực hiện một bài phỏng vấn. Chỉ qua một buổi trò chuyện, không hiểu duyên số thế nào, từ "bác, cháu" sau đó chuyển sang "anh, em" nhanh chóng, ngon lành. Họ chính thức nên vợ chồng vào năm 1999. Lúc này Diễm Chi 37 tuổi và Phan Vũ 73. Nhà thơ vẫn nói với mọi người: "Chúng tôi bằng tuổi nhau, chỉ cần lật ngược lại số tuổi" (37 thành 73 và 73 thành 37).

Số phận của Phan Vũ thật ngẫu nhiên và trời đất cũng thật công bằng: 20 năm vất vả, tận tụy, hết mình chăm sóc người vợ đầu Phi Nga bệnh nặng (1965-1985) thì được bù đắp lại đúng 20 năm sống hạnh phúc, viên mãn bên người vợ thứ hai (1999-2019). Đúng vậy, ngày 17/7/2019, ông qua đời ở tuổi 93, đại thọ.

Và điều hạnh phúc lớn nhất đối với ông là luôn sống thanh thản, lao vào những niềm đam mê với nghệ thuật, với những gì mình yêu thích mà ông cho rằng "mình luôn được sống là mình, đúng với mình, không bon chen, không màng lợi lộc, không cầu lụy ai". Có lẽ vì thế mà ông đã trường thọ và cho tới trước ngày nhắm mắt vẫn còn đau đáu với những dự định sáng tác còn dở dang.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.