Nghệ sĩ Minh Cảnh - “Hoàng đế cơ hàn”

Mê vọng cổ, chắc chắn không ai không say tiếng hát của nghệ sỹ Minh Cảnh, xuất hiện trên sân khấu cải lương miền Nam từ thập niên 60 của thế kỷ trước. Ông là một nghệ sĩ bậc thầy đã sáng tạo ra trường phái ca hơi dài khi vô câu vọng cổ bằng những nét rất đặc trưng mà không có một nghệ sỹ nào có thể đạt được.

Mắc bệnh hiểm nghèo, ông đã xin qua Mỹ định cư, chữa bệnh suốt 13 năm qua. Mãi đến ngày cuối tháng 5/2018, khi đã 81 tuổi, ông mới có dịp về thăm đất mẹ. Thời gian thăm quê không nhiều, ông vẫn thu xếp để tham gia đêm diễn của học trò mình là NSƯT Minh Minh Tâm tại Nhà Văn hóa Thanh niên (TP Hồ Chí Minh)...

Từ cậu bé bần hàn trở thành kép chánh cải lương

Ông tên thật là Nguyễn Văn Cảnh, sinh năm 1938 tại Chợ Lớn. Thân phụ ông gốc Quảng Bình vào Sài Gòn đạp xe xích lô, làm tài xế taxi nuôi gia đình. Mẹ ông buôn gánh bán bưng. Nhà đông con nên cuộc sống rất khó khăn. Lên 11 tuổi, Minh Cảnh về sống với bà ngoại và dì ở đường Nguyễn Thiện Thuật, quận 3. Hồi nhỏ, ban ngày ông đi bươi rác lượm ve chai, bịch ni lông, giấy vụn đem bán.

Tối đến, Minh Cảnh lấy chuối chiên, bánh cam mang đi bán dạo. Mỗi khi nghe máy hát dĩa nhà giàu trên phố mở Út Trà Ôn, sầu nữ Út Bạch Lan hát là Minh Cảnh thấy chân bị níu lại không muốn đi. Nghe riết thành quen, thuộc bài rồi nghêu ngao hát theo. Khoảng 4 năm sau, Minh Cảnh theo cha về sống bên đường Phạm Thế Hiển, quận 8. Ngay góc đường có ông thợ hớt tóc tên Hai Sĩ kiêm nghề dạy đờn ca nên Minh Cảnh được ông nhận dạy hát.

Dịp giỗ tổ sân khấu cải lương 12/8 âm lịch năm 1960, Minh Cảnh vẫn đang bán dạo bánh ú gần rạp hát Aristo trên đường Lê Lai, sát ga xe lửa Sài Gòn (gần chợ Bến Thành ngày nay). Do quen biết nhạc sỹ Văn Được nên Minh Cảnh được dự ké "lễ giỗ" và ăn cúng tổ cùng các nghệ sĩ gánh hát Kim Chung.

Tuy đã 22 tuổi, nhưng do vóc dáng gầy gò, ốm nhom nên mới nhìn ai cũng nghĩ  “cậu bé” chỉ 13-15 tuổi là cùng. Trong buổi tiệc, nghệ sĩ Văn Được giới thiệu Minh Cảnh ca 6 câu vọng cổ bài “Lá thư người chiến sỹ”, Văn Được đàn violon, Ngọc Sáu đờn cò, Bảy Trạch đờn kìm. Mọi người vỗ tay khen ngợi rần rần. Ai cũng khen "cậu nhóc" là một giọng ca tiềm năng. Minh Cảnh được giới thiệu cho ông bầu gánh Kim Chung và bắt đầu sự nghiệp ca hát.

Thời gian đầu, Minh Cảnh một đêm kiếm được 40 đồng và ký được contrat (hợp đồng) 20.000 đồng trong 2 năm. Các vở diễn Minh Cảnh được tham gia như: "Nghệ sĩ mù đất Hà Tiên", "Phù Kiều Trường Hận", "Tiếng cười Bao Tự", "Tuyết phủ chiều đông", "Chiều thu sầu ly biệt"… đều khiến khán trường không còn chỗ trống.

Qua sự kèm cặp của những người thầy Hai Sĩ, Văn Được và Bảy Trạch, Minh Cảnh xuất hiện trên sân khấu lấp lánh hào quang với giọng ca luyến láy, mượt mà với số tiền cát-sê cao ngất ngưởng khiến nhiều người phải mơ ước.

“Hoàng đế vọng cổ” vẫn muôn thuở bần hàn

Sân khấu cải lương vào thời này đã có sự soán ngôi, nhường ngai. Một lớp nghệ sỹ mới xuất hiện như những ngôi sao sáng: Hữu Phước, Hùng Cường, Dũng Thanh Lâm, Minh Cảnh, Út Bạch Lan, Bạch Tuyết, Ngọc Giàu, Lệ Thủy, Thanh Nga, Mỹ Châu, Minh Phụng, Thanh Thanh Hoa… Minh Cảnh không được học hành nhiều nhưng lại có một kiểu ca rất lạ. Công chúng đang muốn một sự tân tiến, muốn thoát khỏi lối ca diễn cổ điển, nên Minh Cảnh trở thành sự lựa chọn hàng đầu.

Năm 1961, Minh Cảnh lên ngôi “Hoàng đế” từ bài vọng cổ “Tu là cội phúc”, tiếp sau đó là hàng loạt bản ca cổ do soạn giả Viễn Châu soạn lời như: "Võ Đông Sơ", "Mưa trên phố Huế", "Lương Sơn Bá", "Sầu vương ý nhạc", "Lưu Bình - Dương Lễ", "Lòng dạ đàn bà", "Em bé đánh giày", "Chuyến xe lam chiều", "Đời mưa gió", "Ni cô và Kiếm sĩ", "Trái sầu riêng"…

Hai năm sau, ông lập ra đoàn Kim Chung 2. Ông bầu kiêm kép chánh Minh Cảnh lại tỏa sáng rực rỡ với những vở tuồng cải lương: "Bên cầu vọng thê", "Manh áo quê nghèo", "Bích Vân cung kỳ án", "Trinh nữ lầu xanh", "Lời thơ trên huyết"…

Đặc biệt, trong “Quán gấm đầu làng” (chuyện Lưu Bình  - Dương Lễ), Minh Cảnh bứt phá với câu vọng cổ hơi dài ca một mạch 53 chữ, đặt dấu ấn đầu tiên cho ca vọng cổ hơi dài đến nay. Giờ đây, trên sân khấu cải lương có những “bản photo” của nghệ sĩ Minh Cảnh như các nghệ sỹ: Giang Châu, Châu Thanh, Phượng Hằng, Bình Trang, Cẩm Tiên…

Nghệ sỹ Minh Cảnh thời trẻ.
Nghệ sỹ Minh Cảnh thời trẻ.

Sau năm 1975, khán thính giả vẫn còn nghe Minh Cảnh với một số bài tân cổ giao duyên rất ấn tượng như: "Cánh chim trên biển", "Rẻ mạ đầu mùa", "Bông điệp Sài Gòn", "Đám cưới trên đường quê hương", "Bông súng trắng", "Cây trứng cá sau vườn", "Người mẹ thời loạn", "Quán nửa khuya", "Đoạn cuối tình yêu", "Chuyến xe lam chiều", "Cô lái đò", "Thuyền hoa", "Rước tình về với quê hương", "Cánh cò và dòng sông", "Thuyền hoa", "Tình nước", "Chín dòng sông hò hẹn"...

Sự nghiệp của Minh Cảnh bị “gãy gánh” giữa đường từ lúc ông biểu diễn màn bay lượn trong vở “Kiếm sĩ dơi” tại Bình Dương. Thời đi hát, vì cạnh tranh, Minh Cảnh từng bị kẻ xấu thuê côn đồ chặn đường đánh trọng thương, nên ông đã học võ phòng thân. Em út của ông (nghệ sỹ Minh Cảnh Em) kể lại, ông dành khá nhiều thời gian luyện võ nghệ, thọ giáo các cao thủ nhiều môn phái Thất Sơn (An Giang), Bình Định, Thiếu Lâm…

Nhờ vậy, các thế võ, múa quyền của Minh Cảnh rất công phu. Đoàn hát của ông biểu diễn các tuồng cổ sử, kiếm hiệp luôn được khán giả nồng nhiệt đón nhận. Ông từng có hàng chục lần nhã nhặn lễ phép với kẻ quấy rối, nhưng khi cần thì ra tay trừng trị thích đáng. Có người biết điều đã thành tâm nhận lỗi.

Có giai thoại kể lại, tướng cướp nổi tiếng Điền Khắc Kim không chỉ là người say mê giọng ca của Minh Cảnh mà còn rất phục về võ thuật, đã tìm mọi cách làm quen, kết bạn với Minh Cảnh. Minh tinh màn bạc Hồng Kông, diễn viên võ thuật Khương Đại Vệ nổi danh từ thập niên 60, khi sang Sài Gòn xem Minh Cảnh diễn hát và múa võ đã cảm phục kết thân giao. Nhưng đôi khi là nghiệp, trong một pha đóng kiếm sĩ dơi bay lượn, ông bị đứt dây, rơi xuống sân khấu tưởng chừng như tuyệt mạng, phải chữa trị rất lâu. 

Từ cõi chết trở về, ông bầu kiêm kép chánh Minh Cảnh lâm vào cảnh túng quẫn, không còn tiền đong gạo, trả lương cho nghệ sĩ đoàn Kim Chung 2. Cuộc đời đã từng cho ông bao nhiêu thứ thì giờ đây lại lấy sạch hết. Minh Cảnh thường vào vai những nhân vật bất hạnh, cô đơn, bần hàn, tử vì đạo, chết vì tình, sống quân tử… như: Trần Tự Tâm (Máu nhuộm sân chùa), Bách kiếm Vương Hồ Vũ (Mùa thu trên Bạch Mã Sơn), Thái Điền kiếm sĩ (Dốc sương mù), Cao Nguyên Bình (Đêm lạnh chùa hoang) hay như các nhân vật trong "Đạo đời hai ngả", "Lưu Bình", "Võ Đông Sơ", "Tô Vũ chăn dê"… Cuối đời nghệ sĩ, phận ông không khác gì vai diễn.  Rời sân khấu, ông quay về Long Xuyên, Sóc Trăng, Cà Mau mở quán nhậu hát cho nhau nghe, hát show đám cưới, đám ma suốt một thời gian dài, lận đận mưu sinh.

 Ông còn là người thầy, tạo ảnh hưởng cho loạt nghệ sĩ sau này thành danh trên sân khấu, lấy nghệ danh có tên ông như: Minh Minh Cảnh, Minh Cảnh Em, Minh Minh Tâm, Minh Tiểu Cảnh, Minh Long Cảnh, Tuấn Cảnh, Minh Cảnh Hưng, Cảnh Minh, Cảnh Thăng, Cảnh Hiếu… Nghệ sĩ Minh Cảnh chung sống với nghệ sĩ Kiều My, có 5 người con,  trong đó Nhật Sơn và Kiều Nhi theo nghề. Hiện ca sĩ Kiều Nhi đã chấm dứt sự nghiệp ca hát, theo chồng sang Mỹ định cư. Nhật Sơn thì thiệt mạng trong một án mạng thương tâm. 

Sau 13 năm xa Tổ quốc, nghệ sĩ Minh Cảnh xúc động: “Tôi về nước đúng sự kiện 100 năm sân khấu cải lương. Đời người có mấy ai được diễm phúc này. Chỉ mong được gặp lại bạn bè đồng nghiệp, khán thính giả thân thương. Con chim xa xứ như tôi thèm được bay về tổ ấm”.

Nam Yên

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.