Nghệ sĩ Kim Sinh: Vinh quang từ vực sâu bất hạnh

Trong làng cải lương, đặc biệt là ở miền Bắc, không ai không biết đến tên tuổi nghệ sỹ khiếm thị Kim Sinh. Nhiều người từng là học sinh của ông và cũng đã trở nên nổi tiếng từ lâu. Ông là thần tượng của mọi nghệ sỹ cải lương lứa đàn em, đàn con, cháu.

Nhắc đến Kim Sinh, người ta còn nghĩ đó là một kho báu làn điệu dân ca, đặc biệt là cải lương. Sẽ là một thiếu hụt cho những bạn trẻ muốn trở thành nghệ sỹ cải lương giỏi mà chưa được thụ giáo nơi ông, hoặc ít nhất được một lần tiếp xúc, nghe ông đàn, ca. Ông lại càng được nhiều người trân trọng hơn khi được biết, ngay từ lúc mới được 3 tháng tuổi, ông đã bị cướp đi ánh sáng nơi đôi mắt. Từ đó, cuộc đời ông hoàn toàn ngụp lặn trong bóng tối với bao nhiêu cay đắng, tủi cực.

Một ngày mùa đông rét như cắt ruột năm 1932, Kim Sinh ra đời ở phố Thể Giao (Hà Nội). Mẹ ông khi đó bán hàng xén ở Chợ Hôm. Lúc Kim Sinh mới được 3 tháng tuổi thì bị mù sau một trận đau mắt. Người mẹ một tay bồng con, một tay ôm chặt lấy chân giường khóc liền cả tuần. Thấy cảnh tượng này, người cha của Kim Sinh nói với bà hãy dứt tình, đưa thằng con xấu số vào nhà thờ cho các bà xơ nuôi hộ.

Bà nói với chồng: “Nó là con tôi. Nó có thế nào tôi cũng nuôi nó, không thể bỏ cho ai. Ông không muốn nuôi thì đi đâu cứ đi, mặc kệ tôi”. Thế rồi người cha của Kim Sinh bỏ đi thật, không bao giờ trở lại. Từ đó, bà ở vậy, tảo tần nuôi Kim Sinh lớn lên. Việc người cha rũ bỏ trách nhiệm với đứa con mù, mẹ không cho Kim Sinh biết. Cậu hỏi thì mẹ nói là cha đã mất.

NSƯT Kim Sinh.
NSƯT Kim Sinh.

Sau này nghe người khác nói rõ sự thật, cậu càng thương mẹ hơn. Đến khi Kim Sinh trưởng thành rồi lấy vợ, có con, mỗi khi con mình có biểu hiện không phải với mẹ chúng, ông rất nghiêm khắc uốn nắn trong khi dễ dàng bỏ qua khi chúng chưa ngoan với mình. Hình ảnh người mẹ của Kim Sinh đã đi suốt cuộc đời ông. Khi trở thành nghệ sỹ nổi tiếng, mỗi khi biểu diễn ở đâu, gặp tiết mục liên quan đến hình tượng người mẹ, lúc đàn, hát, ông vẫn ứa lệ nghẹn ngào.

Do nghèo mà Kim Sinh sớm phải cùng mẹ lang thang kiếm sống. Đó là những ngày tháng ông tiếp xúc với nhiều tầng lớp bần hàn, lam lũ. Cậu bé mù đã từng tìm đến khu vực Vĩnh Hồ để học làm thầy bói. Nhưng những tiếng đàn, hát của những người xẩm lại lôi cuốn và đánh thức khát vọng đến với âm nhạc của cậu. Khi chuyển về cư trú tại xóm Đình Phủ (Khâm Thiên, Hà Nội), cậu có dịp ở gần những nghệ sỹ cải lương nổi tiếng khi ấy là Bích Thuận, Tường Vi.

Thế là ngày ngày, nghe những đĩa hát cải lương từ bên nhà hai nghệ sỹ này vọng sang, cậu đã ngấm dần vào máu để làm hành trang theo suốt cuộc đời. Cũng từ lúc này, cậu trỗi dậy nhu cầu học đàn. Do không có tiền mua nổi đàn nên cậu đã tự tạo từ chiếc hộp xi đánh giày. Khâm Thiên ngày xưa là khu nổi tiếng về hát cô đầu (ả đào) nên Kim Sinh cũng nhanh chóng thẩm thấu những âm hưởng của làn điệu đặc biệt này. Về sau, được mẹ cho tiền mua giày, Kim Sinh đã đổi lấy chiếc đàn tứ mới của một ông đồ nho ở ngõ chợ Khâm Thiên.

Thế là cậu lao vào học đàn, tìm đến ngõ Vạn Thái ở phố Bạch Mai cũng là một chốn cô đầu nổi tiếng ở Hà Nội lúc bấy giờ để học. Do có ông ngoại biết đánh được nhiều thứ đàn dân tộc, lại vốn đam mê nên cậu học đàn khá nhanh, sớm có thể biểu diễn độc lập. Lớn hơn một chút, cậu tìm dến một ông thầy cũng tên Sinh ở ngõ chợ Khâm Thiên học hát văn. Gánh hát Huỳnh Lan Anh có tiếng ở Hà Nội khi ấy đã mời cậu vào làm diễn viên. Cậu được trả lương hậu vì đảm đương được nhiều vai trò: Đánh được nhiều loại đàn, lại hát hay cả vọng cổ lẫn tân nhạc.

Nghe tên tuổi những nghệ nhân hát ả đào nổi tiếng khi đó là Quách Thị Hồ, Trần Thị Phúc, cậu tìm đến học và tiếp thu rất nhanh. Lúc này, có một gánh hát khác của bà Nguyễn Thị Hoàn hội tụ nhiều người tài danh trong lĩnh vực cải lương nên Kim Sinh đã rời gánh Huỳnh Lan Anh để đầu quân. Quả là sau một thời gian ngắn, ở gánh hát này, Kim Sinh đã học hỏi và tích lũy được khá nhiều vốn liếng.

Sau ngày hòa bình lập lại trên miền Bắc (1954), Kim Sinh làm việc ở Đoàn Cải lương Kim Chung, về sau đổi tên thành Chuông vàng Thủ đô (rồi gộp với Đoàn Kim Phụng và Đoàn Hoa Mai của tỉnh Hà Tây cũ thành Nhà hát Cải lương Hà Nội). Ông vừa là diễn viên đệm đàn, vừa hát vọng cổ và sáng tác nhạc cho nhiều vở cải lương nổi tiếng như “Bạch Viên Tôn Các”, “Bạch Xà nương”, “Thoại Khanh - Châu Tuấn”…

Ông cũng cộng tác với Đài Tiếng nói Việt Nam liên tục trong nhiều năm, chủ yếu là đệm đàn cho ngâm thơ và hát dân ca. Ông sử dụng được nhiều nhạc cụ dân tộc như bầu, nhị, thập lục, tứ, nhưng sở trường và điêu luyện nhất là hai thứ đàn đáy và đàn nguyệt.

Nghệ sĩ Kim Sinh luôn có người đẹp ở bên.
Nghệ sĩ Kim Sinh luôn có người đẹp ở bên.

Trong kho băng của Đài Tiếng nói Việt Nam, hàng nghìn bài thơ do các nghệ sỹ Trần Thị Tuyết, Tường Vi, Linh Nhâm, Vũ Kim Dung, Kim Cúc... thể hiên được thính giả mến mộ có công sức rất nhiều bởi sự phụ họa của Kim Sinh bằng tiếng đàn ngọt lừ, đầy sức mê hoặc, quyến rũ.

Kim Sinh có cuộc sống có thể nói lúc nào cũng nghèo khó, mặc dù tiền “cát-sê” người ta trả ông không đến nỗi nào do quá đông con. Được Nhà nước phong danh hiệu NSƯT ngay từ đợt đầu tiên (năm 1984), ông được phân một căn hộ. Nhưng phải bán, chia cho các con để lại phải ở chui rúc. Người nghệ sỹ tài danh khiếm thị này có hai thứ luôn thay đổi: Vợ và chỗ ở. Cứ lâu lâu, chừng vài năm không có dịp gặp ông, đến lúc gặp, tôi lại thấy ông sống với một người phụ nữ khác tại chỗ ở khác.

Tôi chỉ được gặp, chuyện trò với một người trong số đó. Chị có tên Huyền, cũng khiếm thị, làm nghề bán thuốc Tây ở chợ Đồng Xuân. Khi ấy, Kim Sinh sống trong một căn gác nhỏ tại phố Hàng Giầy. Thế rồi một thời gian sau, tôi lại nghe nói ông không ở đó nữa. Tôi cũng là một cộng tác viên chuyên ngâm, đọc thơ cho Đài Tiếng nói Việt Nam trong nhiều thập niên nên được làm việc nhiều với Kim Sinh, từ đó mà trở nên thân thiết, thành bạn vong niên.

Ông đã có lần “khai” với tôi về đời sống riêng tư: Có 4 người vợ chính thức - nghĩa là có đăng ký kết hôn. Ngoài ra, những mảnh tình của ông thì không sao có thể nhớ. Do đàn ngọt, hát hay lại luôn vui vẻ, tận tình chỉ bảo bất cứ ai có ý thụ giáo, dù lâu dài hay chỉ vài buổi ông cũng truyền dạy tận tụy, hết mình, lại có ngoại hình ưa nhìn nên nhiều chị em - đặc biệt là học trò - luôn sẵn sàng “xin chết”.

Kim Sinh chỉ bị hỏng mắt nên luôn phải đeo chiếc kính đen xì, còn thì rất bảnh trai với mái tóc dày, bềnh bồng lượn sóng, chiếc mũi thanh, gọn, dáng người thanh mảnh “hào hoa phong nhã” và đặc biệt là cái miệng rất duyên và hóm, khi “phun châu nhả ngọc” thì như rót mật ong vào tai các người đẹp.

Ông kể rằng cha mẹ đặt tên cho mình là Kim, mới 15-16 tuổi đã phải lòng một cô gái tên Sinh nên lấy luôn nghệ danh là Kim Sinh. Năm 19 tuổi đã lấy cô vợ đầu tiên tên Vương mới có 14 tuổi, rồi sinh liền tù tỳ 6 đứa con. Khi ông đầu quân cho gánh Minh Châu ở Hải Phòng, thấy xung quanh chồng mình luôn có các cô đào trẻ đẹp vây quanh, người vợ này đã bỏ Hà Nội theo chồng xuống đất Cảng để… giữ chồng vì nguy cơ có thể mất bất cứ lúc nào.

Một trong 4 người vợ chính thức của Kim Sinh có tên Bích Hợp đã từng bất chấp ông bị mù, rất đông con, lại bị gia đình đe sẽ từ, vẫn chủ động “tấn công” nghệ sỹ rồi cầm tay ông để ký vào tờ đăng ký kết hôn. Họ đưa nhau về sống trong một căn hộ nhỏ xíu, lụp xụp tại 46 Hàng Bồ (Hà Nội).

Chính Kim Sinh cho đến những năm tháng cuối cùng cũng không thể nhớ hết những phụ nữ đã đi qua cuộc đời mình. Có người chỉ sống với nhau được… vài tháng. Nhiều vợ và người tình như vậy nhưng những năm tháng cuối đời, Kim Sinh vẫn lẻ bóng, chỉ làm bạn với những cây đàn.

Kim Sinh chẳng những nổi tiếng ở trong nước mà nhiều nước trên thế giới đã biết đến và từng mời ông sang nước họ biểu diễn hoặc thu đĩa như  Mỹ, Nhật Bản, Thụy Điển, Na Uy, Phần Lan… Ở đâu, ông cũng được mến mộ đặc biệt. Từ ông, nhiều nước trên thế giới đã biết đến nền âm nhạc cổ truyền đặc sắc và văn hóa độc đáo của Việt Nam.

Ông qua đời ngày 18-1-2015.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.