Nghệ nhân Nguyễn Bá Lam: Một đời đam mê nghệ thuật tuồng

Cụ Nguyễn Bá Lam 96 tuổi- Nghệ nhân ưu tú duy nhất trong lĩnh vực nghệ thuật tuồng ở tỉnh Bắc Giang từng hóa thân vào biết bao vai hoàng tử tài hoa, phong trần nhưng ngoài đời ông lại rất giản dị và đích thực là một nông dân chính hiệu. Đặc biệt, khi nói về tuồng, bao đam mê lại trỗi dậy trong ông.

Duyên phận với tuồng

Bước vào con ngõ sâu hun hút và hẹp chỉ đủ cho hai người đi bộ tránh nhau, sau vài bận hỏi đường cuối cùng chúng tôi cũng tìm đến được nhà “cụ Lam tuồng”. Ở cái làng cổ Thổ Hà, xã Vân Hà, huyện Việt Yên này nếu hỏi cụ Lam thì nhiều nhiều còn ngờ ngợ chứ cứ hỏi về “Cụ Lam tuồng” thì nam nữ, lão ấu tất cả đều tường tận. Còn ở tỉnh Bắc Giang còn duy nhất làng Thổ Hà giữ được nghệ thuật tuồng cổ và cả tỉnh cũng chỉ có cụ Lam được phong danh hiệu nghệ nhân trong lĩnh vực này.

Ngôi nhà cụ Lam ở chung với con cháu chỉ cách sông Cầu vài bước chân. Các lối nhỏ từ ngõ và sân được phơi kín giàn bánh đa nem. Không giống với hình dung ban đầu của tôi về một nghệ sĩ quắc thước vẫn thường thấy ở sân khấu tuồng, cụ Lam có vóc dáng nhỏ thó và khuôn mặt thanh tú. Ở tuổi 96, cụ Lam được xem là còn rất minh mẫn và tinh anh.

Được chúng tôi ngỏ ý muốn tìm hiểu về tuồng, nghệ nhân liền hào hứng và rất nhiệt tình. Cụ bảo, tuồng của làng có từ thời các cụ. Tuy tất cả diễn viên ở đây không được đào tạo qua trường lớp nào cả, chủ yếu là người trước truyền dạy người sau, lớp trẻ đi theo những bậc tiền bối trong làng “học lỏm” lẫn nhau, qua sách vở và xem tivi nhưng họ diễn rất chuẩn mực và giữ được “khuôn vàng thước ngọc” từ thời các cụ ngày xưa.

Cái duyên hát tuồng đến với cụ Lam khá sớm, khi lên 10 tuổi, cậu thiếu niên Nguyễn Bá Lam ngày đó đã đi theo phục vụ phường tuồng của làng. Thấy nhanh nhẹn lại ham học hỏi nên sau này được người chú ruột là trùm trưởng phường tuồng tên là Nguyễn Bách Cốc ưu ái chọn đi diễn.

Nghệ nhân Nguyễn Bá Lam cao hứng với một đoạn tuồng cổ.
Nghệ nhân Nguyễn Bá Lam cao hứng với một đoạn tuồng cổ.

Làng những năm 40 của thế kỷ trước có tận 2 phường tuồng do trùm cụ Cốc và trùm cụ Tre đứng đầu. Nghệ nhân bảo: "Hồi đó nghèo nhưng được đi diễn thì vui và hãnh diện, trang phục diễn đều phải tự bảo nhau may sắm, sau mỗi vở được dân làng mời ăn cơm và cho chút tiền thì thích lắm".

Phận tằm muôn kiếp nhả tơ

Ngần ấy tuổi, cụ Lam chẳng biết nghệ thuật tuồng có ở đây từ thuở nào, chỉ biết rằng hết đời này qua đời khác, người dân vẫn trao truyền cho nhau từ kịch bản, tích truyện, trang phục, vai diễn cho đến cách hóa trang, điệu bộ, cử chỉ riêng. Từ thuở thiếu thời, nghệ nhân đã từng sắm nhiều vai chính diện và thuộc diện “hát hay, diễn đẹp” trong các vở tuồng cổ như: Sơn Hậu, Đào Phi Phụng, Tống Địch Thanh, Tam nữ đồ vương, Chinh Đông chinh Tây... Giờ tuổi cao nhưng hễ biết làng có diễn tuồng ở sân đình là cụ lại chống gậy hoặc nhờ con cháu đưa ra xem.

Cụ bảo: “Thấy người ta diễn mà tôi phấn khích quá, chân tay cứ rung lên bần bật như muốn bước ngay ra sân khấu”. Nói rồi cụ cũng vung tay chao đảo diễn cho chúng tôi coi một đoạn, giọng điệu dù đã hụt hơi nhưng vẫn rất hào sảng: “Từ thuở... Tây thành biệt phủ/Qua... ký Bắc tầm sư”.

Như để chúng tôi hiểu thêm, cụ phân bua ngắt quãng: "Đó, khi ra sân khấu diễn viên thường chào hỏi bạn diễn bằng câu nói ấy. Cụ tiếp tục nhập vai Lã Vọng: "Nay gặp buổi... trời êm... gió mát/ Ta mau tới chốn.. thạch bàn/ Ngộ là... đặng này ta... câu cá".

Nghệ nhân chia sẻ: Với tuồng cổ, mỗi lời nói, cử chỉ, động tác, mỗi bước chân đi đều phải theo bộ, có bộ mới ra tuồng. Diễn đúng chất cổ thì diễn viên luôn phải nhìn theo hướng tay vung, như vậy mới khôn tuồng. Diễn tuồng vất vả, nếu không có sức khỏe thì không thể diễn được và ngược lại, nếu diễn thường xuyên thì thấy người cường tráng. Từng điệu bộ, thao tác diễn tuồng rất khó thể hiện, đơn cử như động tác vuốt râu, chèo cây, múa kiếm, chèo đò cưỡi ngựa… phải thể hiện sao cho thật giống để người xem liên tưởng như thật ngoài đời.

Làm sao câu hát dáng vẻ điệu bộ và cả hành động phải ăn khớp, phù hợp, như vậy khán giả xem mới không thấy sự “vô duyên”. Đôi khi một động tác thôi phải tập đi tập lại nhiều ngày”. Trong suốt câu chuyện, thỉnh thoảng nghệ nhân lại nhắc lại “Do vóc dáng nhỏ, sức bé nên tôi không thể đóng kép tướng mang đai mang, mang giáp mà thường được giao vai hoàng tử, giáo đầu hay vai kép con". Cụ được tin tưởng giao vai “giáo đầu” vì người đóng vai này cần phải hiểu và thành thạo các làn điệu của vở diễn đó, giáo đầu giống như người dẫn chương trình của vở tuồng.

Đã bao đêm cụ mơ về dĩ vãng, những thanh âm nhịp điệu trống tuồng cắc, tùng ấy vẫn len lỏi vào cả giấc ngủ của cụ. Trong trí nhớ ấy còn vấn vương với gánh tuồng, những đêm diễn là tâm điểm thu hút khán giả trong vùng lân bang chèo thuyền qua sông đến xem. Những cân đai áo mão, mặt nạ đỏ vàng thuở xưa thường hiện về theo mỗi bước chân nhịp nhàng, theo mỗi điệu múa khoan thai...

Tuồng Thổ Hà thuộc loại “tuồng pho” có nhiều chương, hồi và diễn nhiều đêm nên có khi diễn thâu canh. Ngày xuân hay khi làng vào đám, hễ nghe nổi trống là người già lẫn trẻ nhỏ kéo ra sân đình xem tuồng, không khí rạo rực đến khó tả.

Còn nặng lòng với tuồng nên điều khiến nghệ nhân cứ day dứt, đó là lớp trẻ bây giờ không còn nhiều người thích theo học tuồng nữa. Cuộc sống thực đằng sau cái "mặt nạ" được bôi trát tầng tầng lớp lớp phấn son, mũ áo chính là nghề làm bánh đa nem, nuôi lợn và nấu rượu truyền thống  bao đời nay của người dân Thổ Hà. Thật may, hiện tại tuồng vẫn có một vị trí quan trọng trong đời sống người dân nhưng tương lai thì chưa có gì bảo đảm tuồng tại đây sẽ không bị mai một.

Chúng tôi chia tay cụ Lam khi cơn mưa chiều đã nặng hạt, đường làng thưa vắng bước chân người. Vậy mà câu hát tuồng của nghệ nhân ấy vẫn cứ len lỏi trong tâm trí như níu kéo bước chân lữ khách. Đâu đó trong tôi lại nhớ về câu ca cổ: “Nghe giục trống chầu, đâm đầu mà chạy/Nghe rao trống chiến, không khiến cũng đi”.

Kim Sa

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.