Nghề, nghiệp và tần suất viết

Điều đầu tiên tôi muốn bàn ở đây là từ khóa “người viết”. Về mặt truyền thống, khi nói đến người làm nghề/nghiệp viết, ta thường nghĩ ngay đến nhà báo, nhà văn (theo nghĩa rộng tức là bao gồm cả người viết văn và viết thơ). 

Phạm Hiệp

Tốt nghiệp tiến sĩ về quản trị kinh doanh tại Đại học Văn hóa Trung Hoa, Đài Loan, năm 2017. Hướng nghiên cứu của TS. Hiệp bao gồm: thương mại hóa trong giáo dục, đo lường khoa học... Bên cạnh kinh nghiệm nghiên cứu, TS. Hiệp còn là một cây viết thường xuyên xuất hiện trong các báo, tạp chí trong và ngoài nước về các vấn đề khoa học và giáo dục. Năm 2013, TS. Hiệp đã từng nhận giải khuyến khích Giải thưởng Báo chí dành cho các nước đang phát triển tại châu Á (DAJA), do Viện Nghiên cứu thuộc Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) trao tặng.

Mối liên hệ giữa số bài công bố và % số bài nằm trong nhóm top 1% được trích dẫn nhiều nhất của các nhà khoa học có công trình nghiên cứu đầu tiên được công bố trong giai đoạn 1980-1985.

Trong bài này, tôi muốn mở rộng thêm một đối tượng, đó là nhà khoa học, những người mà sản phẩm chính của họ cũng được thể hiện qua việc viết bài báo khoa học/sách chuyên khảo, tham khảo.

Hai từ khóa tiếp theo là “nghề” và “nghiệp”. Theo cách hiểu thông thường, khi ta nói làm nghề, nghĩa là nghề đó tạo ra thu nhập thường xuyên cho người lao động (trong khuôn khổ bài này thì là người viết), giúp họ đủ nuôi sống bản thân và gia đình, hoặc hơn nữa là có cuộc sống sung túc, giàu có. 

Ngược lại, nghiệp thì chưa chắc đã đem lại thu nhập ổn định cho người viết nhưng như một nhà văn đã từng nói “cái nghiệp viết đâu phải nói bỏ là bỏ được”, người viết nhiều khi không kiểm đủ tiền để sinh sống bằng hoạt động viết nhưng họ vẫn viết vì viết là “nghiệp”. Cái “nghiệp” đó sẽ giúp họ có được các tác phẩm đỉnh cao.

Từ khóa cuối cùng là “tần suất” viết, đúng hơn là tần suất công bố tác phẩm. Nó xoay quanh một loạt câu hỏi kinh điển của người viết từ xưa đến nay: viết bao nhiêu cho đủ? Nên viết nhiều hay viết ít? Viết nhanh hay viết thưa?

Ảnh: L.G.
Ảnh: L.G.

Câu trả lời cho các câu hỏi liên quan đến vấn đề “tần suất” viết khá rõ đối với người viết văn và viết báo:

- Viết báo rõ ràng là một nghề phổ biến. Và đã là nhà báo thì phải viết đều, viết nhiều, tức là với “tần suất” cao. Báo (giấy) ngày trước hay báo mạng hiện nay yêu cầu nhà báo phải viết với tần suất cao nhất: hằng ngày. Người làm báo chuyên đề hay tạp chí thì dễ thở hơn một chút nhưng chắc cũng hiếm có nhà báo không có tuần nào không viết gì cả. 

Cũng có thể có người làm báo kiếm tiền từ viết báo không đủ, ví dụ như những người làm báo tay ngang (một công chức về hưu hay một chuyên gia trong lĩnh vực nào đó), nhưng thường thì họ sẽ nói “viết báo cho vui”, hiếm ai đó trong số này nói “viết báo vì đó là cái nghiệp”.

- Với viết văn, mặc dù trong xã hội của chúng ta có rất nhiều người có danh xưng nhà văn nhưng rất ít người có thể sống được bằng nghề do đặc thù của văn chương là khó viết và công bố tác phẩm thường xuyên. 

Ở Việt Nam, Nguyễn Nhật Ánh là một trường hợp ngoại lệ hiếm hoi sống được bằng các tác phẩm văn học của mình. Hẳn nhiên, Nguyễn Nhật Ánh cũng viết rất “đều tay” và công bố thường xuyên. 

Ở bình diện quốc tế, một nhà văn khác cũng sống, thậm chí trở thành triệu phú dollar, hoàn toàn bằng tác phẩm là nữ văn sĩ Joanne Rowling, tác giả của tập truyện viễn tưởng Harry Porter. 

Nói về việc này, một nhà văn trẻ (xin được giấu tên) có nhận xét, đặc điểm chung của các nhà văn sống được bằng nghề và tần suất viết thường xuyên là thường viết về chủ đề thiếu nhi, ngôn tình, tức là có yếu tố thị trường, giá trị thương mại có thể cao nhưng giá trị văn chương thì không chắc. 

Như vậy, thực tế là phần lớn các nhà văn trong thực tế chỉ coi văn chương là nghiệp, còn sống thì phải dựa vào nghề khác. Và nghề khác, rất hay lại thường là nghề báo. Kim Dung - tác giả truyện kiếm hiệp nổi tiếng của Trung Quốc - mặc dù kiếm được rất nhiều tiền nhờ truyện chưởng, nhưng thực tế vẫn sống bằng nghề báo. Một số khác, ít hơn có hẳn một nghề nghiệp riêng. 

Ví dụ, nhà văn Hồ Anh Thái còn là một nhà ngoại giao, một công chức nhà nước; nhà văn người Mỹ gốc Việt Thanh Việt còn là một giáo sư đại học; nhà văn Dương Hướng, tác giả của tiểu thuyết Bến không chồng thậm chí còn sống bằng nghề nghe có vẻ rất ít văn chương... cán bộ hải quan.

Nghiên cứu thì chắc chắn là một nghề nhưng tần suất viết của nhà nghiên cứu rõ ràng là một chủ đề ít được chú ý ở Việt Nam:

- Ở Việt Nam, việc một nhà nghiên cứu (giảng viên/nghiên cứu viên) vì tần suất công bố không đủ mà mất việc có lẽ vẫn là chuyện lạ. Nhưng với thế giới phương Tây, đó là chuyện bình thường. Tần suất công bố công trình khoa học là một trong những thước đo để đánh giá kết quả làm việc của nhà nghiên cứu. 

Trong giới khoa học có câu cửa miệng “xuất bản hay lụi tàn” (publish or perish) hàm ý nếu nhà nghiên cứu không xuất bản các công trình khoa học của mình, họ sẽ bị thải loại khỏi nghề (lụi tàn). Xu hướng này bắt đầu xuất hiện từ những năm 1960 và ngày càng mạnh mẽ hơn cho đến tận ngày nay.

Điều này nghĩa là, nhà nghiên cứu ngày nay khó còn có thể ung dung ngồi trong “tháp ngà” suy tưởng về những điều chỉ mình quan tâm và thích bao giờ viết thì viết. 

Năm 2013, khi trả lời báo Guardian, GS Higgs, người từng đạt giải Nobel cùng năm đã có một chia sẻ khá thú vị: khoảng những năm 1960, khi đó ông còn là một nghiên cứu viên trẻ tuổi, đã suýt bị mất việc vì viết (công bố) ít quá. 

Sự kiện bước ngoặt giúp ông giữ được hợp đồng là vì năm đó ông lọt vào danh sách rút gọn ứng viên giải Nobel (sau đó thì trượt giải) khiến cho ban chủ nhiệm khoa rút lại ý định sa thải.

- Mặc dù xu hướng chung với nhà nghiên cứu là tần suất viết phải đều. Nhưng bao nhiêu là “đều” vẫn là một câu hỏi gây tranh cãi chính bản thân trong giới này. 

Rộng hơn, có 2 quan điểm về làm nghề trong giới nghiên cứu: một là, nghĩ cho đủ, làm thực nghiệm cho kỹ rồi hãy công bố, như vậy thì sẽ có các công trình kết quả tốt; hai là, cứ làm vừa phải, có kết quả thì công bố ngay, nghiên cứu tiếp theo lại dựa trên công bố trước đó phát triển tiếp, làm tốt hơn từng chút một. 

Vấn đề này hấp dẫn đến mức, một nhóm nghiên cứu, bao gồm TS Lariviere  (đến từ Canada), và TS Costas (đến từ Hà Lan) đã dành thời gian thu thập thông tin từ hơn 28 triệu nhà khoa học có công trình công bố trong giai đoạn 34 năm từ 1980-2013 để phân tích. 

Kết quả nghiên cứu của nhóm sau đó được đăng trên Tạp chí PLOS One vào tháng 9-2016 với tiêu đề How Many Is Too Many? On the Relationship between Research Productivity and Impact (Bao nhiêu là quá nhiều? Về mối quan hệ giữa năng suất nghiên cứu và tác động của nó). 

Kết quả đối với nhóm tác giả có công trình nghiên cứu đầu tiên trong giai đoạn 1981-1985 cho thấy: nếu nhà khoa học càng công bố nhiều công trình thì xác suất để người đó có nhiều bài trong top 1% được trích dẫn nhiều càng cao (chất lượng nghiên cứu trong khoa học được phản ánh qua số lần trích dẫn). 

Quy luật này đúng cho cả 4 phân ngành lớn là: khoa học tự nhiên; khoa học xã hội và hành vi; luật, nhân văn và nghệ thuật; y dược và khoa học sức khỏe.

Mặc dù quy luật kể trên không hoàn toàn đúng với nhóm các nhà khoa học trẻ (có công trình công bố lần đầu trong giai đoạn 2009-2013), kết quả nghiên cứu của nhóm Lariviere và Costas cho thấy trong khoa học, việc cần cù và không ngừng làm việc, đóng gói sản phẩm và viết các công bố sẽ giúp nhà khoa học lên đến đỉnh cao của cả nghề và nghiệp. 

Nói cách khác, công bố càng nhiều càng tốt là một công thức đảm bảo thành công đối với nhà khoa học trong sự nghiệp. Mặc dù vậy, nghiên cứu này lại không chỉ ra được liệu có một ngưỡng nào đó, mà nếu vượt qua, nhà khoa học sẽ có nhiều cơ hội hơn trong việc có nhiều bài báo lọt top được trích dẫn nhiều. 

Điều này hàm ý cho thấy, một khi đã dấn thân vào nghề nghiên cứu, muốn thành công, không còn cách nào khác, nhà khoa học sẽ phải lao động không ngừng nghỉ và phá vỡ giới hạn tri thức của mình thông qua từng công bố khoa học.

Tác giả gửi lời cảm ơn tới tiến sĩ Vương Quân Hoàng đã trao đổi, bàn bạc trong quá trình thực hiện bài viết này.

Phạm Hiệp

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?