Nếu chúng ta không đốt lửa…

Vào ngày 15 tháng 8 tới đây, Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam sẽ tổ chức Hội thảo “Nhà viết kịch Lưu Quang Vũ với Sân khấu đương đại Việt Nam” tại Hà Nội, nhằm tri ân những đóng góp và thành tựu mà nhà viết kịch Lưu Quang Vũ đã cống hiến cho sự phát triển nền Sân khấu đương đại việt Nam.

Tiếp sau đó, ngày 28 tháng 8, Viện Văn học phối hợp với Trường Đại học Duy Tân đồng tổ chức Hội thảo khoa học “Cuộc đời và sự nghiệp văn học Lưu Quang Vũ” tại TP Đà Nẵng...

Nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ (1948-1988) mất ngày 29 tháng 8 năm 1988, đến nay vừa tròn 30 năm. Với khoảng 50 tác phẩm sân khấu, Lưu Quang Vũ là một trong những gương mặt xuất sắc của sân khấu đương đại Việt Nam. Anh đã được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật. 30 năm đã trôi qua kể từ ngày Lưu Quang Vũ đi vào cõi vĩnh hằng, nhưng những tác phẩm của anh vẫn được các Nhà hát Trung ương và nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước dàn dựng, biểu diễn. Công chúng yêu sân khấu vẫn tìm đến những vở kịch hấp dẫn và mang tính xã hội hết sức nóng bỏng, sâu sắc một thời của Lưu Quang Vũ…

Vợ chồng cố nhà thơ Lưu Quang Vũ - Xuân Quỳnh.
Vợ chồng cố nhà thơ Lưu Quang Vũ - Xuân Quỳnh.

Ngược trở lại thời gian, nhớ lại những năm 1967, 1968, Lưu Quang Vũ tròn 20 tuổi. Chúng tôi đang trẻ trung, đang nhiều mơ ước, nhiều hoài bão và khát vọng, nhưng cũng không ít nỗi buồn. Nỗi buồn vu vơ, nỗi buồn vô cớ, nỗi buồn chợt đến, chợt đi… nhưng đó là những nỗi buồn vô tư, thanh sạch tự đáy lòng mình về thi ca, nghệ thuật, về tình cảm và chiều sâu tâm hồn của mỗi con người với cách nhìn về cuộc sống, chứ không phải là những nỗi buồn vì vật chất, cơm áo gạo tiền cụ thể hằng ngày… mặc dù giai đoạn đó đang hết sức khó khăn của cơ chế quan liêu bao cấp, tem phiếu, hộ khẩu, sổ gạo và cả nước đang bước vào cuộc chiến tranh chống Mỹ xâm lược ác liệt nhất.

Và rồi, tròn 30 năm sau kể từ những ngày đó, khi Lưu Quang Vũ đã đi vào cõi vĩnh hằng, được đọc lại những dòng nhật ký của Vũ - chàng trai mới tròn 17 tuổi - mới thấy đúng như tâm trạng lớp trẻ chúng tôi ngày ấy: hoài bão, hy vọng, khát khao luôn là những ý nghĩ thường trực trong tâm khảm với những nghĩ suy hết sức lạc quan, trong sáng.

“Mùa xuân 1965…31-1-1965 (30 Tết).

Hôm nay đã là 30 Tết rồi. Mùa xuân đã về rồi đây. Sao trong những ngày giáp Tết này, lòng người cứ thấy náo nức lạ thường. Hà Nội đang độ đẹp trời, không khí nhộn nhịp với hoa, với pháo… Xuân này đến, đối với mình, càng có nhiều điều đáng ghi nhớ mùa xuân cuối cùng của đời học sinh, sang năm là bay vào cuộc sống rồi. Xuân 1965, xuân Đất nước có bao nhiêu biến chuyển lớn lao “Nửa công trường, nửa chiến trường xôn xao” ngày chiến thắng của miền Nam đã tới gần, năm 1965 sẽ là năm chứng kiến nhiều sự kiện vĩ đại. “Tổ quốc ta có khi nào đẹp như thế này chăng?”. Thật là tự hào và hạnh phúc khi mình được sống giữa những năm sôi nổi của đất nước. Biết bao điều thôi thúc lòng ta. Mùa xuân tới, càng gọi dậy những điều tươi đẹp trong tâm hồn… (trích nhật ký Lưu Quang Vũ - Di cảo. NXB Lao động 2008)…

Trước khi về Tạp chí Sân khấu (1976), Lưu Quang Vũ vẫn cứ lang thang. Thi thoảng có công việc gì về vẽ, tôi kéo Vũ đi, bởi Vũ làm pa nô quảng cáo, làm mảng màu khá nhanh, trong người Vũ rất có “máu” hội họa. Ngoài ra, tôi và Vũ chơi với nhau với tư cách những người cùng làm thơ. Lúc đó, Lưu Quang Vũ đã nổi tiếng, in nửa tập “Hương cây” (cùng “Bếp lửa” của Bằng Việt).

Còn tôi, làm thơ chơi, cho mình và đọc cho bạn bè thân tình, không nghĩ đến in ấn và xuất bản. Từ khi về Tạp chí Sân khấu, cái máu mê sân khấu từ trong tận cùng tâm hồn Lưu Quang Vũ lại trào dậy (có lẽ cả “gen” di truyền của thân phụ anh - nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Thuận nữa). Chính giai đoạn ngót chục năm này là vốn sống về công việc “bếp núc” sân khấu quý giá để Lưu Quang Vũ viết trên mấy chục vở kịch, chiếm lĩnh hầu hết sàn diễn sân khấu Việt Nam của thập kỷ 80 - thế kỷ XX...   

Nhớ lại Hội diễn Sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc 1980, đợt 1 được tổ chức tại Hà Nội; Lưu Quang Vũ đã chính thức ra mắt và rất thành công với vở kịch nói đầu tay “Người cộng sản trẻ tuổi” (đồng tác giả với Đào Duy Kỳ). Đây chính là tấm giấy thông hành để anh bắt đầu đi vào con đường sáng tác kịch bản sân khấu…

Vào mùa đông năm 1982, đạo diễn Phạm Thị Thành mời tôi thiết kế mỹ thuật vở cải lương “Thủ phạm là ai” (Ngọc Thụ chuyển thể từ kịch nói của Lưu Quang Vũ) cho Đoàn Cải lương Thanh Hóa. Chị Thành đã vào làm việc với diễn viên từ mấy hôm trước nên tôi và Lưu Quang Vũ hẹn nhau cùng đi tàu hỏa vào sau để dự lễ khởi công. Vậy mà buổi tối ngày lên đường, tôi chờ Vũ ở cửa Ga Hàng Cỏ, cho đến lúc tàu sắp chuyển bánh mới thấy anh hớt hải đạp xe đến và ủ ê thông báo là bận đột xuất nên không đi cùng được. Sợ nhỡ tàu, tôi bắt tay Vũ và chạy vội vào sân ga, cũng không kịp hỏi lý do “đột xuất” đó là gì nữa…

Nhà thơ Lưu Quang Vũ và tuyển tập kịch của anh xuất bản năm 1994.
Nhà thơ Lưu Quang Vũ và tuyển tập kịch của anh xuất bản năm 1994.

Rồi ba năm sau, cho đến Hội diễn Sân khấu năm 1985, tôi lại thiết kế mỹ thuật vở “Vách đá nóng bỏng” của Lưu Quang Vũ cho Đoàn Dân ca Thuận Hải (Ninh Thuận và Bình Thuận ngày nay - Huy chương Bạc dành cho vở diễn, Huy chương Vàng Thiết kế mỹ thuật tại Hội diễn Sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc 1985)…

Sau này (mùa đông 1987), trong bài thơ “Cảm tác nỗi niềm sân khấu” tặng Lưu Quang Vũ, tôi đã viết: “Thời chúng mình là hai bàn tay trắng/ trăng trắng suông và mây trắng bay về/ đêm diễn tan rồi em rầu rầu xóm trắng/ sương trắng bay nhoè lá trắng ao quê...” - để nhớ lại một thuở buồn vui ngày ấy.

Sau “Vách đá nóng bỏng”, một lần lang thang cà phê, Vũ kể với tôi là đã có cái đề cương để viết một vở mới với tên gọi “Cô gái đội mũ nồi xám”. Vở diễn này ra đời khi cả đất nước ta đang trong thời kỳ quan liêu bao cấp; với bao nhiêu khó khăn, bộn bề của cuộc sống thường nhật; với một thế hệ trẻ cũng có những băn khoăn, trăn trở trong những bước đi để tìm lấy một chỗ đứng trong xã hội cho mình.

Chính trong những năm tám mươi đầy vất vả đó, bằng cách nhìn và sự quan sát tinh tế, đầy nhân bản của một nghệ sĩ, Lưu Quang Vũ đã tìm đến với thế hệ trẻ - lắng nghe những nỗi niềm tâm sự, những khát vọng cháy bỏng và cả những hoài nghi của họ nữa - để viết nên khá nhiều tác phẩm về lớp thanh, thiếu niên trước ngưỡng cửa của thời kỳ đổi mới như “Vụ án 2000 ngày”, “Hoa cúc xanh trên đầm lầy”, “Cô gái đội mũ nồi xám”, “Lời thề thứ 9”, “Nếu anh không đốt lửa”, “Tôi và chúng ta”, “Vách đá nóng bỏng”… đã để lại những dấu ấn về nghệ thuật cũng như cả nội dung tư tưởng.

Nhưng điều thành công lớn nhất của Lưu Quang Vũ chính là anh đã đưa ngôn ngữ của kịch nói đến với đông đảo công chúng, được công chúng đón nhận một cách nồng nhiệt - bởi anh đã nói giúp họ nhiều điều về chính bản thân họ, cũng như chính cuộc sống đang hết sức khó khăn mà mỗi một con người đều phải gồng mình lên mới vượt qua được - như ý một lời thoại trong kịch của anh “nếu anh không đốt lửa, nếu tôi không đốt lửa, nếu chúng ta không đốt lửa… thì cuộc sống này sẽ chẳng còn ý nghĩa gì nữa…”.

Thời gian cứ thế dần trôi như chớp mắt. Vậy là Lưu Quang Vũ đã đi xa tròn 30 năm. Trong ngày các Hội viên Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam liên hoan, gặp mặt chào mừng đất nước bước vào mùa xuân mới Âm lịch Mậu Tuất 2018, nhiều anh em bạn nghề lại nhắc tới Lưu Quang Vũ, với những tình cảm riêng và chung của mỗi người.

Bài viết ngắn này của tôi như một nén tâm hương để tưởng nhớ Lưu Quang Vũ… Tất cả rồi sẽ qua đi. Cả công và việc. Cả làm và ăn. Cả thọ và yểu. Cả danh và lợi hào nhoáng, hão huyền. Cả lòng tốt đẹp và điều đố kỵ muôn thuở của con người. Nhưng vẫn còn lại “Hoa cúc xanh trên đầm lầy” ngày ấy, vẫn còn lại nghĩa bạn hữu và những gì là giá trị nghệ thuật đích thực giữa cuộc đời này - có phải thế không - Vũ ơi?

Lê Huy Quang

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.