Mùa thu tôi yêu

Vậy là mùa Thu trong tôi cũng đồng nghĩa với tục ngữ và ca dao, với cô Kiều và Nguyễn Du, với hạt gạo và mẹ hiền, với bài Quốc ca và Tổ quốc, với những bộ quân phục xanh biếc. Với ngần ấy điều, làm sao những bài thơ của tôi lại không gắn bó với Mùa Thu, gắn bó với Hồn Việt Ngàn Năm cho được! Mùa Thu cũng chính là Mùa Thơ.

Một mùa Thu lại tới!

Đến độ tuổi nào đó con người ta mới cảm nhận hết được sắc thái và sự sâu lắng của mùa Thu, có phải thế không bạn? Trong bài thơ “Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến”, sau câu thơ mở đầu thật da diết là tôi đã thảng thốt kêu lên: “Chỉ tiếc mùa Thu vừa mới đi rồi!”. Tại sao lại là mùa Thu, mà không phải là mùa Đông hay mùa Xuân??? Tôi đã tự hỏi lòng mình nhiều lần như thế, nhưng chưa lần nào trả lời cho rõ ràng được, quả thật là có điều gì đó bí ẩn ở đây chăng? 

Với bao nhiêu năm cầm bút, hai tiếng “Mùa Thu” được nhắc đi nhắc lại trong thơ tôi với một mật độ khá dày đặc. Thậm chí có lúc, tôi còn lấy tên cho cả một tập thơ là “Xúc xắc Mùa Thu”. Trong số rất nhiều bài thơ viết về mùa Thu đó, bài thơ “Thư mùa Thu” đã được Báo Văn nghệ trao giải Nhất trong cuộc thi Thơ năm 1972 - 1973 cùng với các anh chị: Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Duy và Lâm Thị Mỹ Dạ.

Một mùa Thu lại tới!

Có nghĩa là tôi lại phải cố gắng tìm cách trả lời cho câu hỏi: “ - Tại sao mùa Thu lại gắn bó với thơ tôi đến thế?”. Và tôi nhớ lại ngày mùng 6 tháng 9 năm 1971, tôi cùng 300 sinh viên Trường Đại học tổng hợp đã đồng loạt khoác lên người bộ quần áo lính để lên đường ra trận. 

Đúng như liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc đã viết trong những dòng mở đầu của cuốn nhật ký “Mãi mãi tuổi hai mươi”: “Nhiều lúc mình cũng không ngờ nổi rằng mình đã đến đây. Không ngờ rằng trên mũ là một ngôi sao. Trên cổ áo là quân hàm đỏ. Cuộc đời bộ đội đến với mình tự nhiên quá, bình thản quá, mà cũng đột ngột quá".

Nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm.
Nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm.

Có lẽ tôi trở thành “nhà thơ - chiến sĩ” cũng đột ngột như thế! Thạc được phân về Binh chủng Thông tin, còn tôi thì trở thành anh lính cao xạ. Nguyễn Văn Thạc làm thơ và tôi cũng làm thơ - Thạc làm thơ xong thì âm thầm giấu đi, còn tôi thì liều mạng cho mấy bài thơ của mình vào trong cái “cát tút pháo 37 hai nòng” để gửi về Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Gửi thơ xong rồi, đơn vị lập tức hành quân cấp tốc vào mặt trận Quảng Trị đỏ lửa. 

Bây giờ cho phép tôi được nói thật ý nghĩ của lòng mình khi đó, tôi đã nghĩ: “Hy sinh là cái chắc!”. Thú thực là chúng tôi không sợ chết cho lắm, Nguyễn Văn Thạc đã ghi hộ chúng tôi những điều này vào trong cuốn nhật ký của anh: “Có phải đời ta là cầm súng AK đánh giặc. Đứng trên đồi phun lửa vào kẻ thù, dạn dày, thầm lặng... chẳng cần ai biết đến đâu. Rồi lúc nào ta chết, chỉ cầu xin một điều, trên nấm mồ của ta là cây bạch đàn, cây bạch đàn mảnh dẻ... Nằm trong lòng đất, giá còn được nghĩ, ta sẽ làm thơ, ừ, làm thơ, làm toán... Chà, lập dị, lập dị, ngớ ngẩn đến thế nữa cơ”. 

Không sợ chết... nhưng trong lòng tôi khi ấy lại nao nao lên một ý nghĩ: “Nếu mình hy sinh mà mấy bài thơ gửi về may mắn được in, mình sẽ không bao giờ còn được cầm quyển Tạp chí Văn nghệ Quân đội trên tay nữa, tiếc thật!!! Tiếc thật!!! Đúng là dớ dẩn, dớ dẩn thật rồi!!!”.

Và “Đùng” một cái, giữa tiếng bom tiếng đạn ùng oàng đến long cả màng nhĩ - Đột ngột quyển Văn nghệ Quân đội có in chùm thơ 3 bài của tôi rơi vào giữa khẩu đội cao xạ khét lẹt thuốc súng. Tôi lặng cả người đi, rồi muốn hét lên thật to: “-Thạc ơi! Văn ơi! Đồng đội ơi! Văn nghệ Quân đội in thơ của mình rồi!”. Trong 3 bài thơ ấy, có một bài tên là “Mùa Thu Tôi Yêu”:

Từ trong tục ngữ ca dao
Mùa Thu tôi tự khi nào đã yêu…
Mẹ tôi giã gạo nuôi tôi
Chày mùa Thu gõ mãi lời nước non...

Nước Non! Nước Non! Phải rồi, vì Non Nước Việt Nam thương yêu này, mà chúng tôi sẵn sàng xếp bút nghiên lên đường ra trận. Nguyễn Văn Thạc đã khóc cũng như bao chàng sinh viên đã khóc vì buổi chia tay thiêng liêng quá: “nước mắt giàn giụa, khi các bạn tiễn mình đi, khi buổi lễ kết thúc, khi bài Quốc ca rung bầu không khí trong lành trên trường Tổng hợp. Bản nhạc này đây, bao lần mình đã nghe, đã cúi đầu suy nghĩ. Nhưng hôm nay mới thực hiểu, thực cảm một điều giản dị: Bài Quốc ca của ta, của ta!

Vậy là mùa Thu trong tôi cũng đồng nghĩa với tục ngữ và ca dao, với cô Kiều và Nguyễn Du, với hạt gạo và mẹ hiền, với bài Quốc ca và Tổ quốc, với những bộ quân phục xanh biếc. Với ngần ấy điều, làm sao những bài thơ của tôi lại không gắn bó với Mùa Thu, gắn bó với Hồn Việt Ngàn Năm cho được! Mùa Thu cũng chính là Mùa Thơ.

Sau này khi chiến tranh đã kết thúc, tôi trở về nhà và được nghe mẹ tôi kể lại rằng có một đêm vào năm 1972 đã khuya lắm, bố tôi chở mẹ tôi trên chiếc xe đạp đến nhà một người đồng đội của tôi để hỏi thăm tin tức cậu con trai, vì có tin tôi đã hy sinh. Nhưng gia đình người đồng đội cũng chả biết gì hơn, vì khi ấy đánh nhau ác liệt quá, bọn lính chúng tôi hành quân vào sâu mãi, không đứa nào kịp viết thư về nhà. 

Bố mẹ tôi vô cùng lo lắng lại lọc cọc chở nhau về bằng chiếc xe đạp trên những đường phố vắng lặng của Hà Nội. Trời tự dưng đổ trận mưa to, cả hai ông bà vội nép vào một mái hiên bên đường. Một cái đài của buổi phát thanh Tiếng Nói Việt Nam ở trong ngôi nhà gần đấy, bỗng ngân nga vang vọng ra giọng ngâm thơ của Trần Thị Tuyết:

...Đây con cá của dòng sông
Đây mùa Thu trái ước mong chín già
Từ trong mưa nắng đời ta
Mùa vui lại tỏa hương hoa cuộc đời
 Con chim trắng tự do ơi
Mùa Thu ấy có bao người hồi sinh
Tôi thầm kêu: Hồ Chí Minh
Tiếng tôi bay đến Ba Đình trong mơ
Mùa Thu ấy có ai đưa
Vào trong máu với trong thơ triệu người...

Mẹ tôi nắm chặt lấy tay bố tôi và kêu lên: “ - Bài thơ “Mùa Thu Tôi Yêu” của thằng Cầm đấy! Thằng Cầm vẫn còn sống! Còn sống!”.

Đã gần nửa thế kỷ trôi qua rồi - Những giọt nước mưa của đêm chiến tranh ấy vẫn còn rơi trong hồn tôi - Những dòng nước mắt chảy giàn giụa trên khuôn mặt Nguyễn Văn Thạc trong buổi chào cờ vẫn hiện ra ngời sáng như ngọc trước mắt tôi.

Trang thơ mùa thu trên internet của nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm.
Trang thơ mùa thu trên internet của nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm.

Có lẽ nào - tôi lại không yêu Mùa Thu!

MÙA THU TÔI YÊU

Từ trong tục ngữ ca dao
Mùa thu tôi tự khi nào đã yêu
Từ trong tiếng khóc cô Kiều
“Ba thu dồn lại…” bao nhiêu tháng ngày
Từ trong lấm láp bàn tay
Mẹ ru tôi ngủ giấc ngày còn thơ
“Tháng bảy lác đác cành ngô
Tiếng chày ai nện đêm thu nghẹo người”
Mẹ tôi giã gạo nuôi tôi
Chày mùa thu gõ mãi lời nước non
Từ thu có ông trăng tròn
Từ thu trong quả bưởi thơm ngọt ngào
Từ thu rước đèn ông sao
Mùa thu tôi tự khi nào đã yêu.
“Muốn sang thì bắc cầu kiều
Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”
Mùa thu ấy bạn cầm tay
Cùng tôi đi hết quãng ngày còn thơ
Mùa thu ấy thực hay mơ
Bi bô tôi học bên bờ tre xanh
Đứng cạnh tôi, mẹ và anh
Lũy tre đã hóa trưởng thành quanh tôi
Nẻo đường du kích gần thôi
Bác thương tôi lắm gửi lời nhớ nhung:
“Thu này Bác gửi thư chung
Bác hôn các cháu khắp vùng gần xa
Thu này hơn những thu qua
Kháng chiến thắng lợi gấp ba bốn lần”
Mùa thu ríu cả bàn chân
Bác ơi cháu thấy trong lòng nao nao
Từ trong kháng chiến gian lao
Mùa thu tôi tự khi nào đã yêu.
Trong mầu xanh, tiếng chim kêu
Đây hóa lá của bao nhiêu ruộng đồng
Đây con cá của dòng sông
Đây mùa thu trái ước mong chín già
Từ trong mưa nắng đời ta
Mùa thu lại tỏa hương hoa cuộc đời
Con chim trắng tự do ơi
Mùa thu ấy có bao người hồi sinh
Tôi thầm kêu: Hồ Chí Minh
Tiếng tôi bay đến Ba Đình trong mơ
Mùa thu ấy có ai đưa
Vào trong máu với trong thơ triệu người

Mùa thu mây tóc Bác Hồ
Mùa thu quả bưởi hương đưa ngọt ngào
Mùa thu tục ngữ ca dao
Mùa thu tôi tự khi nào đã yêu.

Hoàng Nhuận Cầm

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.