Một tiếng lòng tha thiết lặng thầm

Nghe tên tác giả, có thể nhiều người không biết nhưng nghe bài hát thì lại rất quen thuộc, nhất là lớp người hôm nay đã ở tuổi "xưa nay hiếm". Đó là Nguyễn Văn Khánh - một trong những nhạc sĩ để lại nhiều ca khúc hay thuộc dòng "tiền chiến" khiến công chúng, nhất là ở Hà Nội một thời từng say đắm: "Thu", "Chiều vàng", "Lời thề xưa", "Nhạc sĩ với cây đàn", "Nỗi lòng"…

Nhớ lại, khoảng năm 1969, vừa tốt nghiệp đại học, có mấy tháng chờ công tác, rỗi, tôi tìm đến học đàn ghi-ta một người chỉ sống bằng nghề dạy đàn là Nguyễn Văn Khánh. Đó là một người đàn ông trông mảnh khảnh, không được khỏe với nước da mai mái và tạng người gầy yếu. Ngoài đàn ghi-ta gỗ (lục huyền cầm), ông còn chơi rất giỏi và dạy thêm đàn Hạ uy cầm (còn họi là đàn Hawai). Điều đặc biệt thú vị là ông chơi bằng tay trái, tức là ngược với cách chơi thông thường của mọi người khác.

Tôi ngưỡng mộ và bái phục ngón đàn rất ngọt ngào, bay bướm, có phần lả lướt của ông ở cả hai loại nhạc cụ này. Nhưng thấy ông ít nói, có vẻ khép kín, lại cũng chẳng thấy xuất hiện, biểu diễn ở đâu nên tôi nghĩ ông chắc cũng như nhiều người chỉ thuần túy dạy đàn kiếm sống. Và tôi đã không dám hỏi chuyện ông, chỉ trả bài rồi chăm chú nghe ông bày cho các "ngón" đàn. Sau chừng nửa giờ học, tôi chào ông, ra về. Sau mấy tháng học, đến khi tôi đi làm, không còn thời gian thì dừng việc học đàn.

Một tiếng lòng -0
Cố nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh (1922 - 1976)

Cũng thời gian này, tôi có dịp quen biết, lui tới ca sĩ Ngọc Bảo (thường được gọi là tài tử Ngọc Bảo khá nổi tiếng khi ấy). Tôi coi ông như một người anh, người thầy về phương diện ca hát. Ngọc Bảo sở trường hát nhạc tiền chiến. Khi nghe ông hát những ca khúc vừa nhắc ở trên, tôi thấy rất hay mà lần đầu tiên được nghe từ ông, tôi hỏi thì được biết tác giả là Nguyễn Văn Khánh, sáng tác từ trước năm 1954.

Ông cũng cho biết sau 1954, nhạc sĩ này không viết gì nữa tuy còn trẻ, mới 32 tuổi, chỉ sống bằng nghề dạy đàn. Vậy là tôi đã có mấy tháng học đàn Nguyễn Văn Khánh mà không biết ông là một nhạc sĩ tài hoa, tác giả những ca khúc nổi tiếng một thời. Vì rất thích mấy bài đó mà tôi đã chép từ Ngọc Bảo về tập, nhanh chóng hát thuần thục. Tôi quyết định trở lại thăm Nguyễn Văn Khánh, định bụng sẽ hát cho ông nghe, hy vọng ông sẽ hào hứng chuyện trò.

Quả đúng như vậy. Lần gặp lại sau mấy tháng, ông yêu cầu tôi đánh đàn ghi-ta xem có tiến bộ chút nào hơn trước. Sau khi nghe tôi hát rất say sưa mấy bài nổi tiếng, ông trở nên cởi mở hơn và kể về bản thân cùng sự ra đời mấy bài đó. Từ lần ấy, cộng với một vài lần đến chơi khác, tôi đã hiểu được nhiều về ông. Nguyễn Văn Khánh lúc mới gặp luôn khiến đối tượng nghĩ ông khép kín, không dễ bộc lộ. Nhưng khi đã gần gũi thì trở nên cởi mở và chân tình, sẵn sàng thổ lộ những điều không dễ nói ra.

Ông không là con nhà nòi, cũng không học hành gì về âm nhạc nhưng được trời phú cho năng khiếu và lòng say mê âm nhạc từ nhỏ. Chẳng học ai, chỉ vì quá yêu thích mà tự mày mò luyện tập để rồi trở thành một trong hai người chơi đàn hạ uy cầm hay nhất ở Hà Nội trước năm 1954 (người còn lại là William Chấn - thầy dạy đàn của Đoàn Chuẩn cũng là một tay chơi hạ uy cầm nổi tiếng khi đó).

Chơi đàn chưa khiến Nguyễn Văn Khánh thỏa tình yêu âm nhạc. Ông bắt đầu tìm đến sáng tác từ rất sớm. Phạm Duy đánh giá rất cao những ca khúc của ông. Nhạc sĩ họ Phạm nhận xét rằng Nguyễn Văn Khánh không chịu ảnh hưởng bất cứ ai, cũng không khai thác dân ca hoặc yếu tố truyền thống trong giai điệu mà sáng tác hoàn toàn ngẫu hứng và đã mô phỏng một cách rất tự nhiên tính chất của đàn hạ uy cầm. Đó là sự mềm mại, điệu đà, lả lướt của âm sắc đàn này. Bởi vậy mà các bài hát của Nguyễn Văn Khánh luôn có giai điệu rất ướt át, lãng mạn, dễ lôi cuốn người nghe trong khi ông không mấy dụng công làm ca từ.

Ông là người rất đa tình, đa đoan, vướng vào vòng tình ái từ rất sớm. Chuyện rằng ngay từ năm thứ hai học ở bậc thành chung, mới 14-15 tuổi, ông đã thầm yêu, trộm nhớ cô láng giềng bằng tuổi mình là con út của ông Thông phán làm việc ở Phủ thống sứ Bắc Kỳ. Sẵn ngón đàn, cứ những đêm trăng sáng, Khánh lại đem ra vườn sau nhà dạo những nét nhạc thật lả lướt. Cô hàng xóm nghe thấy rất thích cũng lẻn ra liếc nhìn sang. Thế là 4 mắt vô tình bắt gặp nhau.

Nhưng cả hai đều ngần ngại, không nói được với nhau câu gì. Khánh rất "láu cá", đã hái quả cà chua xanh ném qua hàng rào sang vườn nhà cô gái rồi giả bộ cố vươn tay sang nhặt nhưng không với tới, bèn nhờ cô gái nhặt hộ. Cô nhặt nhưng đã rất hóm mà nói: "Cà chua còn xanh, sao có thể rụng được nhỉ trong khi không có gió bão gì". Thế là từ đó, họ thành quen biết và gặp nhau tự nhiên hơn. Và tình yêu dần nảy nở, kéo dài được 3 năm mà gia đình không ai hay biết.

Đến năm cuối bậc thành chung do vướng vào yêu đương mà Khánh thi trượt. Sau đó, cô gái cương quyết không gặp Khánh với ý định để anh tập trung thi tiếp. Anh chàng hứa cho được gặp nhau một tuần một lần, sẽ quyết tâm thi đỗ bằng được. Quả là tình yêu có sức mạnh ghê gớm. Lần thi sau, Khánh đã đỗ. Đúng lúc này thì người cha của cô gái bị điều lên Thái Nguyên làm việc. Ông đã đưa cả gia đình lên đây sinh sống. Đương nhiên, cô cũng phải lên theo.

Thế là họ phải xa nhau. Khánh đã không quản đường xa, mỗi tuần đều đặn lên thăm người yêu một lần vào thứ 7, bất kể trời mưa hay nắng. Tuy có đám rất "môn đăng hộ đối" do gia đình nhận lời nhưng cô gái vẫn khăng khăng thoái thác, một lòng hướng đến chàng nhạc sĩ nghèo. Thời gian này, mỗi lần gặp nhau, cả hai đều rất bùi ngùi, không biết tương lai của mình sẽ ra sao. Tâm trạng đó về sau được Nguyễn Văn Khánh viết nên bài "Nỗi lòng": "Yêu ai yêu cả một đời/ Tình những quá khắt khe/ Khiến cho đời ta đau tủi cả lòng/ Vì yêu ai mà lòng hằng nhớ…".

Rồi có một lần, do mắc việc đột xuất, phải sau hai tuần Khánh mới lên Thái Nguyên. Lòng anh bồn chồn, nóng như lửa đốt. Đến khi lên thì nghe tin người yêu bị cảm đột xuất, vào nhà thương cấp cứu nhưng không qua khỏi. Cô được gia đình đưa lên an nghỉ tại một đồi thông cách nhà chừng một cây số. Nguyễn Văn Khánh tức tốc tìm đến thì thấy ngôi mộ cỏ non vừa nhú mầm. Và sau đó, ông viết nên bài "Chiều vàng" có giai điệu rất buồn như cõi lòng mình vậy: "Trên đồi xanh chiều đã xuống dần/ Mặt trời lấp ló sau đồi chiều vàng/ Riêng mình ta ngồi ngắm quanh trời/ Lạnh lùng nghe tiếng chim chiều gọi đàn…".

Một tiếng lòng -0
Bà Thuận - phu nhân của Nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh.

Ngày trước, những anh chàng chơi đàn Tây luôn là thần tượng của các cô gái, nhất là ở thành thị. Nguyễn Văn Khánh mở lớp dạy đàn ở gần ngõ chợ Khâm Thiên. Khi ông chơi đàn thì thường có những cô gái thuê trọ ở gần đấy ra nghe và nhìn người đánh đàn. Nhưng có một cô tên Đặng Thị Thuận thì không như vậy mà tỏ ra chẳng để ý gì đến anh chàng nhạc sĩ trông rất điển trai kia. Do cô gái đã lọt mắt Khánh nên gia đình đã đem lễ vật đến dạm hỏi. Được bà chị dâu và cả nhà "vun vào" mà cuối cùng Thuận đã đồng ý làm vợ Nguyễn Văn Khánh. Đó là năm 1942, cả hai người đều mới 20 tuổi.

Tuy cuộc hôn nhân không xuất phát từ tình yêu lãng mạn nhưng khi làm vợ, Thuận đã thể hiện một phẩm chất làm vợ tuyệt vời. Cô chăm sóc chồng rất chu đáo, đặc biệt là tạo mọi điều kiện tốt nhất để chồng có thể yên tâm sáng tác. Trời nóng mà bị mất điện, cô đã ngồi bên cạnh quạt cho chồng cả buổi. Hy sinh tất cả và nhẫn nhịn, chịu đựng cả những việc làm của chồng mà không ai đồng tình cũng là điều đặc biệt ở Thuận.

Sau khi Nguyễn Văn Khánh qua đời vào năm 1976, bà Thuận cho biết ông bà sống với nhau 34 năm nhưng chỉ 1/3 thời gian đó bà được ở gần chồng, còn lại là ông đi suốt, nay đây mai đó. Bà cũng biết rõ rất nhiều bài hát ông sáng tác từ mối quan hệ với các cô gái khác sau khi đã cưới bà. Người sâu đậm nhất có tên Sâm. Cô này đã sinh cho Khánh 7 người con. Về sau, chết mất 5 người, chỉ còn 2. Khi Sâm qua đời, bà Thuận đã sẵn sàng đón chúng về nuôi coi như con mình sinh ra. Bà còn vô cùng nhân hậu và cao thượng khi lại sẵn sàng dang rộng cánh tay đón Nguyễn Văn Khánh trở lại với mình khi ông bị cô Sâm phụ bạc lúc lâm bệnh mà trước đó do mê Sâm, đã lao theo. 

Số lượng bài hát Nguyễn Văn Khánh để lại không nhiều và tất cả đều là tình ca, trong đó một tỷ lệ lớn nhất là viết về những mối tình đi qua cuộc đời mình. Những bài này đến hôm nay vẫn được lớp người có tuổi còn nhớ và ưa thích. Tại các sân khấu ở hải ngoại của bà con Việt kiều, cũng luôn được vang lên trong những cuộc gặp mặt hoặc đại nhạc hội. 

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.