Một thế hệ thầy trò Trường THPT Lương Ngọc Quyến

Trường THpt Lương Ngọc Quyến - tỉnh Thái Nguyên (đơn vị Anh hùng thời kỳ Đổi mới) được thành lập năm 1946, xuân này vừa tròn 70 tuổi! Trường sẽ tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 70 năm thành lập vào ngày 13/3/2016, ngày Bác Hồ kính yêu về thăm trường năm 1960, được chọn là Ngày Truyền thống hàng năm của trường!

Là một giáo viên từ lúc mới vào nghề rồi trở thành cán bộ quản lý chủ chốt của trường (giai đoạn từ 1954 đến năm 1959), tôi đã có may mắn và vinh dự được làm việc, cộng tác với một thế hệ thầy trò có nhiều điểm đặc biệt và đã trưởng thành nhanh chóng! Sau đây tôi xin nêu lên những nét đặc biệt đó để minh họa thêm cho cuốn “Lịch sử Trường…”, những mong đóng góp cho sự thành công của Lễ Kỷ niệm 70 năm ngày thành lập trường năm nay!

Thế hệ của những người thầy hết lòng vì học sinh thân yêu

Thời đó, dạy ở trường phần đông là các trí thức, công chức, sinh viên học dở bậc đại học hoặc đỗ Tú tài thời Pháp, khi trường mở đã được mời về dạy học. Họ có kiến thức rộng, giỏi ngoại ngữ. Phần lớn không mang theo vợ con; gia đình ở xa, nên toàn tâm toàn ý lo cho việc dạy học; gần gũi, yêu quý các trò phần lớn là con em nông dân nghèo. Sinh hoạt của họ hết sức đơn giản: ở nhờ nhà dân, hoặc cùng học sinh góp gạo thổi cơm chung! Điển hình là một số thầy sau đây: Thầy Uyên hai bằng Tú tài Tây, đã từng làm Thư ký Phủ Toàn quyền…

Thầy Uyên dạy môn Sinh, sau này dạy “kê” Toán lớp 8. Kháng chiến gian khổ, vò võ một thân một mình, một lần thầy đã quyết định về với gia đình đang sống sung túc tại Hà Nội. Tuy nhiên, đến cửa ngõ Hà thành tráng lệ, thầy bỗng như sực tỉnh, quyết định quay trở lại với các học trò nghèo thương quý lâu nay của mình!

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Trường Lương Ngọc Quyến (13-3-1960).
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Trường Lương Ngọc Quyến (13-3-1960). 

Hòa bình lập lại, trường chuyển về thị xã, thầy đã đưa cô con gái nhỏ lên ở nhờ một nhà dân tiếp tục dạy học. Một đêm trời rét, thầy lên cơn đau tim và mất đột ngột tại căn nhà lá ở tạm, không một lời trối trăng! Một tuần trước, em Phước, học sinh miền Nam tập kết, còn bé, học lớp 8, đá phải một thanh nứa thợ đang làm lớp học, nhiễm uốn ván. Thuốc Ban Thống nhất đưa lên không kịp, em đã qua đời. Một tuần hai đám tang của hai thầy trò vô cùng thân quý làm mọi người như bị muối xát vào lòng! Thầy Thu (Hiệu trưởng từ năm 1953), tốt nghiệp Toán học đại cương, vợ con ở xa...

Năm 1956 được Bộ mời về biên soạn sách giáo khoa Toán, rồi chuyển về Thủ đô làm Giám đốc Thư viện Khoa học Trung ương… Thầy Thu thực sự là một người đàn anh, người thầy về chuyên môn đối với những giáo viên mới ra trường chúng tôi! Thầy Chu Thế Kỳ tốt nghiệp Khoa học cơ bản Khu học xá Trung ương, hai lần làm Hiệu trưởng trường, là người có công lao lớn nhất trong việc xác định địa điểm hiện nay, chỉ đạo xây dựng một cơ ngơi Trường sở rộng rãi, bề thế, tạo điều kiện cho hàng ngàn thầy trò hoạt động thuận lợi. Sau thầy đi chuyên gia châu Phi, rồi làm Giám đốc Sở Giáo dục Bắc Thái trước khi nghỉ hưu. Thầy Đỗ Đức Hiểu, Tú tài Văn chương, dạy Văn ở cấp hai rồi lên cấp ba nổi tiếng dạy “hay”, sau này về dạy Văn tại Đại học Tổng hợp được phong hàm Phó giáo sư.

Còn lại là số giáo viên trẻ chúng tôi, được các nhà trường sư phạm của nước ta đào tạo “chính quy”, phân về đảm nhiệm các công tác, giảng dạy của trường. Chúng tôi phần lớn lúc đó đều chưa lập gia đình, ở tập thể, lương bổng, sinh hoạt phí chỉ chênh nhau vài ba cân gạo, nên sống với nhau rất chan hòa, đoàn kết. Làm chủ nhiệm lớp, chúng tôi thường xuyên thăm các tổ nhóm học tập, gia đình phụ huynh để nắm vững tình hình từng em, tổ chức phụ đạo kèm cặp học sinh học yếu kém… Một phong trào dự giờ thăm lớp được phát động để giúp nhau về chuyên môn…

Việc tự học văn hóa, ngoại ngữ trở thành một nhu cầu bức thiết của mỗi người để tự nâng cao hiểu biết, tham khảo tài liệu soạn bài khi chưa có sách giáo khoa… Các thầy trẻ chúng tôi còn tổ chức đưa học sinh đi dân công làm đường phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ, học nghề tại Trường Dạy nghề Quân đội 382, giúp học sinh tổ chức những hoạt động ngoại khóa, văn thể. Suốt năm học ngày nào không khí nhà trường cũng sôi nổi vui vẻ như ngày hội…

Có thể nói, thế hệ các giáo viên, già trẻ của nhà trường thời đó đều là những nhà giáo mẫu mực, đoàn kết, cộng tác giúp đỡ lẫn nhau như anh chị em một nhà để nâng cao chất lượng công tác, giảng dạy, thực hiện đúng khẩu hiệu “Tất cả vì học sinh thân yêu”! Nhiều người đã trở thành cán bộ cốt cán của trường: Thầy Nguyễn Đình Khâm, thầy Lương Vĩnh Khang trở thành Hiệu phó, Hiệu trưởng nhà trường ngay từ thời đó!

Sau này nhiều người nổi tiếng, có cương vị cao, là Hiệu trưởng các Trường của Trung ương, Khu, Tỉnh: Thầy Khâm - Vụ trưởng Vụ Các Trường Đảng, Hiệu trưởng Trường Nguyễn Ái Quốc 5; thầy Khang - Hiệu phó, Hiệu trưởng các Trường Sư phạm Khu, Tỉnh, chuyên gia giáo dục, chuyên viên cao cấp Bộ Giáo dục- Đào tạo. Thầy Nguyễn Như Ất, Thư ký Công đoàn, sau là Phó Tiến sĩ, Giảng viên Đại học, năm 70 tuổi còn được phong hàm Phó giáo sư. Thầy Lâm, Hiệu trưởng Trường Phổ thông vừa học vừa làm Quán Triều, là Nhà giáo Nhân dân. Nhiều thầy trở thành chuyên gia giáo dục tại Lào, Angola, Mali, Algeria…

Thế hệ của những học sinh sống có lý tưởng, niềm tin, là nguồn nhân lực trình độ cao xây dựng đất nước.

Sau khi trường chuyển về thị xã, có 4 thành phần học sinh - một đặc điểm không trường trung học nào thời đó có!

Thành phần học sinh người Kinh: Phần lớn nghèo, hơi lớn tuổi, một số bị gián đoạn việc học… Một số phải đi làm: bán kem; cắt tóc; đánh máy thuê; chở xe bò để ăn học, nhưng sau đều tốt nghiệp đại học, trở thành giảng viên đại học, bác sĩ, viên chức nhà nước… Một số từ các tỉnh bên, từ vùng tạm chiếm ra học…

Có thể nói họ đã xác định được động cơ, lý tưởng học tập. Lớp 8,9 đầu tiên, một số học sinh được chọn đi học nước ngoài, một số đi bộ đội, học sĩ quan; thư từ gửi về làm nức lòng thầy cô và các học sinh đang học tại trường. Một không khí dân chủ, đoàn kết, tự giác bao trùm mọi mặt trong trường: Học sinh đóng góp nhiều vào công việc tự quản của trường: Trực nhật, trực tuần, tham gia đoàn đội, phản ánh, góp ý… việc giảng dạy của giáo viên.

Tôi còn nhớ rõ các gương mặt thân thiết của từng người vẫn làm việc với tôi: Anh Cương, Kiều Tuân, chị Nga, anh Quán Anh, Đoàn Nga… Sau này ra trường trở thành bác sĩ, kĩ sư, giáo sư, tiến sĩ; khi gặp lại họ vẫn gọi tôi bằng từ anh thân thiết, cùng sự kính nể không hề thay đổi. Một số trở thành người có tiếng tăm: Trần Quán Anh: GSTS, bác sĩ đầu ngành Nam học Việt Nam, tác giả vở kịch nổi tiếng “Tiền tuyến gọi”; Tiến sĩ Nguyễn Tiến Nguyên tốt nghiệp Vật lý hạt nhân tại Đúp Na, Liên Xô cũ; Đinh Văn Định, giảng viên Văn học Đại học Sư phạm Hà Nội; Hà Đức Toàn - nhà văn.                            

Thành phần thứ hai là các học sinh miền núi, dân tộc ít người: Tày, Nùng, Mán, Dao, Sán Chỉ, Cao Lan… đến từ các huyện xa trong tỉnh; có cả ở các tỉnh bạn về học. Ban đầu các em trọ học nhà dân cùng học sinh người Kinh. Sau này tỉnh lập kí túc xá cho các em ở nội trú trong trường. Do ngôn ngữ hạn chế, nên học hơi vất vả lúc đầu nhưng sau dần theo kịp các bạn miền xuôi. Tôi được dạy và làm chủ nhiệm lớp 8B lên 10B có các em dân tộc.

Được quan tâm giúp đỡ, các em rất quý thầy, học khá dần. Phan Văn Hỏn (Nùng - Cao Bằng) là sinh viên Nùng đầu tiên bước vào ngưỡng cửa Trường Đại học Y Dược Hà Nội, Phó Tiến sĩ tại Liên Xô cũ, Đại tá, bác sĩ, Viện trưởng một Viện Quân Y lớn;  Vi Hồng (Tày - Cao Bằng) sau này là nhà văn v.v…

Thành phần thứ ba là các học sinh miền Nam tập kết và vượt tuyến do Ban Thống Nhất gửi lên học: Tuy không phải là một trường dành cho học sinh Miền Nam, nhưng Ban Thống Nhất Trung ương tin tưởng ở đội ngũ cán bộ giáo viên và môi trường địa phương nên đã gửi một số không ít các học sinh học ở cấp 2 và 3, cả nam lẫn nữ tới học. Các em ngay từ đầu đã được ăn ở nội trú tại trường và được cấp phát chăn áo… theo tiêu chuẩn chung. Vì miền Nam ruột thịt, các thầy cô dành nhiều tình cảm chia sẻ, chăm sóc các em hơn…

Những ngày Tết, các thầy cô đưa các em về gia đình, vận động nhân dân quanh trường, bạn bè miền Bắc đón các em về ăn Tết để các em nguôi ngoai nỗi nhớ nhà. Kết quả học tập của các em rất tốt! Đại đa số đỗ đại học, số không ít được đào tạo tại nước ngoài trở thành Phó tiến sĩ, giữ trọng trách (Vụ trưởng, Chủ tịch tỉnh) tại các cơ quan ở Thủ đô và sau này ở miền Nam… Khi tôi vào Sài Gòn thăm chị gái, rất đông các bạn học sinh vượt tuyến cũ biết tin, mời tôi đến họp mặt, báo cáo hoàn cảnh từng người sau khi ra trường và kết luận: “Thưa thầy Khang, tất cả chúng em đều nên người, làm ăn tử tế, không ai hư hỏng, thầy ạ!”.

Thành phần thứ tư là các học sinh Lào: Các em là những hạt giống đỏ của Cách mạng Lào, trong số đó có hai con - một trai một gái của Hoàng thân, Chủ tịch Xu Pha Nu Vông; cháu gái của ngài Phumivôngvichit, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào… Các em được gọi để giữ bí mật là học sinh miền núi miền Nam; được ăn ở nội trú tại một khu vực riêng trong trường… Các em đều có ý thức học tập và hoạt động tốt, nhất là văn thể.

Sau này, khi sang Lào công tác, tôi có nhiều dịp gặp lại một số em lúc đó đã là cán bộ cốt cán của nước bạn, điển hình như: Xổm Foon (Xuân Phong), Ủy viên Ban Thường vụ Quốc hội, Trưởng ban Dân tộc; Ngọc (TS Đa Von) là Ủy viên dự khuyết BCH Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Phó ban Thanh tra Trung ương Đảng; Xỉn xay - Vụ trưởng, nhân vật Tân mà tôi đã nói tới trong câu chuyên “Tiếng gọi thầy giữa rừng vắng Thượng Lào” đăng trên Văn hóa - Văn nghệ Công an số 11-2003 v.v… 

Thế hệ thầy trò Trường Lương Ngọc Quyến giai đoạn 1953-1959 đã xây dựng trường thành một nhà trường đặc biệt lớn mạnh, có uy tín cao, có những nét riêng biệt so với các thời kỳ khác của trường cũng như các trường cấp 2-3 lớn các tỉnh bạn như Hàn Thuyên (Bắc Ninh), Lê Hồng Phong (Nam Định), Ngô Sĩ Liên (Bắc Giang) v.v… làm tiền đề quan trọng cho sự phát triển rất đáng tự hào sau này!

Hà Nội, Xuân Bính Thân, 2/2016.

Lương Vĩnh Khang

Các tin khác

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...