Một nhạc sỹ đặc sắc của thôn dân

Đã biết và hâm mộ nhạc sỹ nào thì tôi hay tìm hiểu về họ, đặc biệt là bút pháp, phong cách sáng tác để học hỏi. Và Văn Chung là một trong những nhạc sỹ tôi tìm đến...

Tôi còn nhớ rất rõ: Vào khoảng những năm 1952 - 1953, tại một vùng quê hẻo lánh của huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ, người ta dựng các lán, trại cho thương binh đến ở. Đây là số thương binh không thể tiếp tục cầm súng ngoài mặt trận, được đưa về hậu cứ để chữa trị. Các sinh hoạt văn nghệ luôn được tổ chức để anh em có cuộc sống tinh thần tốt, mau chóng phục hồi sức khỏe.

Những đêm văn nghệ như thế được bà con đến xem rất đông. Lũ "nhóc" như tôi khi ấy cực kỳ thích thú. Tôi thuộc lòng một bài hát vì hầu như buổi văn nghệ nào như vậy cũng có một cặp nam, "nữ" ra song ca (nam đóng giả nữ vì không có nữ): "Cày sâu cuốc bẫm xong rồi, người dân cày thi đua, thi đua đắp bờ tát nước, cùng tát nước với chiếc gầu dai…". Cặp trai, "gái" thương binh hát bài này khiến người xem rất thú vị, cười nghiêng ngả.

Sau hòa bình lập lại (1954), tôi lại cũng nhập tâm mấy bài hát thiếu nhi:  "Lỳ và Sáo", "Đếm sao", "Lượn tròn, lượn khéo", "Trăng theo em rước đèn"… Mãi về sau này, khi là sinh viên, tập toạng sáng tác âm nhạc thì hay để ý đến các nhạc sỹ nổi tiếng, có những bài hát mình ưa thích, tôi mới biết những bài hát trên là của cùng một tác giả: Văn Chung.

Cố nhạc sỹ Văn Chung.
Cố nhạc sỹ Văn Chung.

Đã biết và hâm mộ nhạc sỹ nào thì tôi hay tìm hiểu về họ, đặc biệt là bút pháp, phong cách sáng tác để học hỏi. Và Văn Chung là một trong những nhạc sỹ tôi tìm đến. Ngày ấy, ông sống ở phố Lê Thánh Tông, gần Trường Đại học Tổng hợp (cơ sở 1) và làm Giám đốc Nhà hát Giao hưởng hợp xướng Nhạc vũ kịch Việt Nam.

Chưa gặp, chỉ nghe các ca khúc của Văn Chung (cả người lớn lẫn thiếu nhi), thấy giai điệu có âm hưởng rất dân tộc, lại mềm mại, duyên dáng, tôi cứ hình dung tác giả khác hẳn khi gặp mặt. Thoạt nhìn, dễ nghĩ ông là một cán bộ tổ chức hoặc nhà giáo mô phạm, khô khan. Nhưng tiếp xúc lâu, nhất là khi đã trở nên thân thiết, lại thấy ông hoàn toàn khác: Rất tình cảm, trìu mến, ân cần, giản dị, hòa đồng, không một chút khách sáo, rườm rà và rất thẳng thắn.

Ở nước ta, không nhiều nhạc sỹ được coi là của một đối tượng công chúng riêng nào đó bởi phần nhiều họ sáng tác dành cho mọi đối tượng, viết về rất nhiều đề tài. Vậy nên để có thể gọi được là nhạc sỹ (hoặc nhà thơ, nhà văn, họa sỹ…) của một đối tượng cụ thể nào đó thì phải có hai yếu tố: Một là, phải có nhiều tác phẩm (số lượng).

Hai là phải xuất sắc, được đối tượng đó yêu thích, tán thưởng (chất lượng). Riêng với nông dân, từ trước đến nay chỉ có 4 nhạc sỹ được coi là "Nhạc sỹ của nông dân". Đó là Văn Chung, Lê Lôi, Nguyễn Văn Tý và Thái Cơ (xếp theo thứ tự tuổi tác). Cả bốn vị đều có những ca khúc hay được bà con nông dân rất ưa thích. Nhưng riêng Văn Chung thì bên cạnh chất lượng đặc sắc, có số lượng nhiều hơn hẳn.

Ngoài bài vừa dẫn có tên "Hò dân cày" sáng tác trong kháng chiến chống Pháp, ông còn có một loạt bài nổi tiếng được công chúng truyền tụng một thời. Đó là "Gái thôn Đoài, trai thôn Thượng". Và riêng về công việc đi cấy của nông dân, ông có tới 4 bài, bài nào cũng có sức lan tỏa: "Lúa cấy thẳng hàng", "Cấy lúa xuân", "Ba cô gái đảm" và "Tính hẹn cùng tình".

Những ai yêu thích âm nhạc, đặc biệt là nông dân sống ở những thập niên 60-70 của thế kỷ 20 không thể không biết những bài hát này. Có lần tôi hỏi ông, vì sao ông viết những 4 bài về cấy lúa như vậy thì ông cho biết công việc này chỉ nữ làm, mà ông lại muốn nói đến người phụ nữ nông dân với những phẩm chất cao quý. Họ luôn tần tảo, vất vả, vừa cáng đáng việc đồng áng, vừa sẵn sàng chiến đấu mỗi khi có máy bay của địch xâm phạm bầu trời quê hương.

Để được nông dân ưa thích, các ca khúc phải thấm đượm âm hưởng dân gian. Ngôn ngữ âm nhạc phải bám chặt vào các chất liệu truyền thống. Văn Chung luôn ý thức rất sâu sắc điều này trong mọi tác phẩm của mình. Ngoại trừ hai bài là "Từng bước đi vững chắc" viết sau ngày đế quốc Mỹ gây hấn (5/8/1964) và "Hồ Vị Xuyên" - một ca khúc dành cho tuổi trẻ - thì hầu như tất cả các sáng tác của ông đều có chất liệu là các làn điệu chèo.

Rõ nhất là trường hợp bài "Quê tôi giải phóng" ông viết ngay sau ngày hòa bình lập lại trên miền Bắc (1954). Từ hai câu thơ lục bát làm sẵn "Từ ngày giải phóng quê tôi, mít tinh lại họp rợp trời cò bay", ông bắt đầu bài hát rất tự nhiên rồi thêm mấy tiếng "ô là hô hoan hô" thật duyên dáng.

Toàn bộ bài hát nổi rõ chất liệu chèo, nhất là mấy câu "Ríu ra ríu rít từng đàn con trẻ dung dăng dung dẻ từng đàn con trẻ đi học ban ngày". Văn Chung là nhạc sỹ của nông dân. Cũng có thể nói ông là nhạc sỹ của đồng bằng Bắc Bộ vì hầu như toàn bộ các ca khúc của ông chỉ khai thác chất liệu dân ca khu vực này. Và có lẽ sau Phạm Duy, ông là người khai thác dân ca Bắc Bộ thành công nhất.

Lần đầu tiên được tiếp xúc với Văn Chung là khi tôi đang làm phóng viên văn nghệ ở một tờ báo, cách đây cũng đã hơn 40 năm. Tôi hỏi ông là vì sao ông cũng giống như nhiều nhạc sỹ khác tuy sinh ra ở một vùng quê nhưng cả cuộc đời thoát ly, đi bộ đội rồi sống và làm việc ở Thủ đô mà tác phẩm lại rất gần gũi với nông dân thì ông nói: "Rất dễ hiểu vì mình đặc biệt yêu thích dân ca, mà là dân ca đồng bằng Bắc Bộ với rất nhiều làn điệu hấp dẫn, mượt mà, tinh tế. Dân ca là gắn liền với các vùng quê, với nông dân. Từ ngàn đời nay, dân tộc Việt Nam ta chủ yếu là nông dân.

Tầng lớp thị dân cũng từ nông dân mà ra. Họ tràn từ thôn quê ra các đô thị kiếm sống rồi trở thành người thành thị. Như vậy thì gốc gác của họ cũng là nông dân". Ông căn dặn tôi như lời một người thầy nói với trò: "Cậu muốn theo đuổi con đường sáng tác âm nhạc thì không thể không am hiểu và thuộc nhiều làn điệu dân ca.

Cố nhạc sỹ Văn Chung thời trẻ.
Cố nhạc sỹ Văn Chung thời trẻ.

Không yêu thích dân ca, tác phẩm viết ra không bắt nguồn từ chất liệu dân tộc thì không sống được lâu. Có thể rộ lên một thời gian rồi thì về lâu dài cũng sẽ lụi tắt". Tôi vô cùng tâm đắc lời khuyên đó và thực hiện mỗi khi sáng tác ca khúc. Nhưng sức lôi cuốn của những sáng tác của Văn Chung khiến không chỉ nông dân, lớp công chúng có tuổi tán thưởng mà lớp trẻ cũng ưa thích là ông không nệ ở ngũ cung là cấu tạo âm giai dân tộc mà mở rộng và lưu ý sáng tạo về tiết tấu để trở nên có hơi hướng hiện đại. Ngay bài "Quê tôi giải phóng" vừa nhắc ở trên cũng rất rộn rã, rất phù hợp với không khí các vùng quê khi vừa giải phóng mà tác giả diễn tả trong bài.

Văn Chung (1914 - 1984) thuộc lớp nhạc sỹ đầu đàn của nền tân nhạc Việt Nam, cùng thời với những tên tuổi như Nguyễn Xuân Khoát, Doãn Mẫn, Lê Yên. Ông bắt đầu sáng tác âm nhạc từ rất sớm. Năm 1935, ở tuổi 21, ông đã viết "Tiếng sáo chăn trâu". Ngay tác phẩm đầu tay này cũng đã thể hiện rõ khuynh hướng muốn nói về nông thôn của ông. Năm 1939, ông có bài "Bóng ai qua thềm" rất nổi tiếng, nằm trong những ca khúc tiêu biểu của dòng nhạc lãng mạn khi đó, ai cũng biết. Cũng năm này, ông là một thành viên trong nhóm thành lập Nhà xuất bản Tricéa là NXB Âm nhạc đầu tiên ở nước ta chuyên in ấn những bài hát của giới sáng tác.

Ngoài những bài viết về nông thôn, nông dân nói trên, Văn Chung còn những bài nổi tiếng khác mà bộ đội thời chống Pháp rất ưa thích: "Pì noọng ơi!", "Vào Đông Khê". Đặc biệt là bài "Đợi anh về" phổ thơ của nhà thơ Xôviết Ximônốp (Tố Hữu dịch). Chẳng những là nhạc sỹ của nông dân, ông còn được coi là nhạc sỹ của tuổi thơ với những bài có sức lan tỏa rộng rãi.

Hôm nay, ai ở tuổi từ 50 trở lên không thể không biết các bài ông sáng tác giành cho tuổi mầm non, nhi đồng: "Trăng theo em rước đèn", "Lượn tròn lượn khéo", "Sân trường em", "Dung dăng dung dẻ", "Chào cô ạ". Đặc biệt có bài "Đếm sao", không bé nào không biết ("Một ông sao sáng, hai ông sáng sao, ba ông sao sáng…").

Sinh thời, có lần ông đã rất cởi mở kể cho tôi nghe sự ra đời bài "Đếm sao" này. Đó là một lần ông chứng kiến một đứa trẻ đang tung tăng chạy nhảy. Bé này đúng bằng đứa con gái của ông khi mất. Hình ảnh đứa trẻ khiến ông nhớ lại con gái mình và trong lúc thương nhớ bé, ông đã viết nên bài hát chỉ trong rất ít phút.

Văn Chung quả là rất xứng đáng với Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật mà ông được truy tặng vào năm 2012. Trước đó, ông đã được nhận giải thưởng Nhà nước. Ông là một người bạn thân thiết của bộ đội và đặc biệt là nông dân Việt Nam. Với bà con, không dễ có một Văn Chung thứ hai.

PV

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.