Một nhạc sĩ nghiệp dư được tuổi thơ yêu quý

Đó là nhạc sĩ Hàn Ngọc Bích (1940 - 2015), suốt đời ông là nhà giáo, sáng tác chỉ là "tay trái". Vậy nên số lượng tác phẩm không nhiều. Nhưng chất lượng thì không thua kém bất cứ một nhạc sỹ viết cho thiếu nhi thực thụ nào.

Gia tài ca khúc dành cho tuổi thơ của Hàn Ngọc Bích chỉ vỏn vẹn chưa tới hai chục bài. Nhưng ông để lại được một nửa trong số đó là những bài rất nổi tiếng mà thế hệ thiếu nhi thời chống Mỹ không ai không biết, không thuộc. Nhiều bài vẫn có đời sống bền vững cho tới hôm nay.

Tại các cuộc liên hoan, hội diễn văn nghệ dành cho học sinh, những ca khúc của ông vẫn thường xuyên được vang lên. Có thể các ca sỹ nhí ngày hôm nay không biết gì về bối cảnh ra đời những bài hát ấy nhưng lại rất thích thú mỗi khi cất lên giai điệu.  

Hẳn là những người hôm nay đã làm cha, mẹ, thậm chí ông, bà không thể không nhớ một bài hát rất xinh xắn mà thuở đi học mẫu giáo ngày trước mình vẫn hát: “Eo eo eo! Rửa mặt như mèo. Xấu xấu lắm chẳng được mẹ yêu. Khăn mặt đâu mà ngồi liếm láp. Đau mắt rồi lại khóc meo meo” (Rửa mặt như mèo).

Chính tôi mãi tới khi tiếp xúc với Hàn Ngọc Bích vào khoảng năm 1977 rồi chơi thân với ông mới biết bài hát này của bạn mình trong khi con nhỏ của tôi khi ấy suốt ngày hát. Ngoài ra, ông còn một bài dành cho tuổi mẫu giáo khác cũng rất nổi tiếng (viết cùng Văn Dung) là bài “Em đố mẹ em”: “Em đố mẹ em Mỹ rơi bao máy bay…. Mẹ bảo chịu thôi làm sao đếm được máy bay giặc Mỹ nó rơi hàng ngày”.

Đó là hai bài dành cho tuổi nhà trẻ, mẫu giáo. Còn lại là viết cho tuổi nhi đồng, thiếu niên với những bài có phong vị đặc biệt, không thể lẫn  với bất cứ tác giả nào khác cũng viết cho thiếu nhi. Đương nhiên là giai điệu phải trong sáng, hồn nhiên như tuổi thơ nhưng nếu nghe kỹ, ta thấy có chiều sâu, phảng phất nỗi niềm suy tư.

Không hẳn là Hàn Ngọc Bích “già hóa” ca khúc thiếu nhi mà tôi cho rằng chính như vậy mới phù hợp với tuổi thơ Việt Nam luôn vất vả, chịu đựng cuộc sống khắc nghiệt trong sản xuất và chiến đấu. Đó là tuổi thơ của một dân tộc luôn phải gồng mình lên để đương đầu với mọi cam go lớn, nhất là trong thời chiến. Ta hãy nghe kỹ bài “Đưa cơm cho mẹ đi cày” - một trong những ca khúc thiếu nhi hay nhất trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước của nền âm nhạc Việt Nam: “…Mẹ ơi, mẹ nghỉ tay. Trời trưa vừa tròn bóng. Mẹ ăn cơm cho nóng. Mẹ để trâu cho con chăn…”.

Lời lẽ bình dị nhưng giai điệu nghe có cái gì đó hơi buồn buồn, ít nhiều trầm tư chứ không sôi động, nhí nhảnh, phơi phới như hầu hết những bài hát thiếu nhi cũng rất hay mà ta vẫn thấy. Khi tôi nói điều trên với Hàn Ngọc Bích thì ông lấy làm cảm động và thú vị, cho rằng tôi đã “lý luận hóa” một cách rất chí lý sáng tác của mình chứ thực ra lúc ông viết, không có ý thức đó mà là bài hát được ra đời sau khi đứa con gái đầu lòng mất.

Ông viết trong tâm trạng tiếc thương, đau buồn nên mới tuôn ra giai điệu như vậy. Những ca khúc khác của ông như “Cây bàng trước ngõ”, “Tiếng chim trong vườn Bác”, “Em bay trong đêm pháo hoa”, “Tre ngà bên lăng Bác” đều được tuổi thơ truyền tụng đến ngày hôm nay.

Có thể nói bài hát nào của Hàn Ngọc Bích cũng hay, giai điệu trong trẻo, ca từ giàu chất thơ mà vẫn gần gũi dung dị. Sở dĩ ông không để lại số lượng nhiều vì công việc dạy học rồi sau đó là nghiên cứu choán hết thời gian, sáng tác chỉ có thể là tay trái. Nhưng đó chỉ là một phần. Phần quan trọng hơn là ông viết một bài không dễ dàng mà khó khăn, trăn trở, sửa đi sửa lại, tu chỉnh quá kỹ lưỡng.

Sự khó tính trong sáng tác chính là nguyên nhân khiến ông không nhiều về số lượng nhưng các tác phẩm của ông khi ra đời lại đạt chất lượng cao như ta đã thấy và công chúng đón nhận. Không phải tác giả nào cũng có được phẩm chất rất cần thiết này. Có những năm tháng tôi và ông ở gần nhau, chỉ cách chừng mấy trăm mét nên có điều kiện thường xuyên gặp nhau, thù tạc.

Cũng như tôi, ông không biết uống rượu, bia, thuốc lá, cà phê. Nhưng đàm đạo về âm nhạc, văn chương thì không bao giờ cạn chuyện. Viết được bài nào, ông lại đến hát cho tôi nghe. Hỏi sáng tác bao giờ thì ông nói viết xong đã mấy tháng. Lại hỏi sao không cho nhau biết ngay mặc dù vài ngày gặp nhau một lần. Ông bảo viết xong nhưng chưa vừa ý, cứ để đó ngẫm nghĩ thêm, đến khi thật vừa ý mới có thể cho tôi nghe.

Có bài tôi góp đôi điều, ông tiếp thu liền nhưng không sửa hoàn toàn theo ý tôi mà thay đổi theo hướng khác. Lại mất mấy tháng nữa mói xong. Ông thú thật với tôi là “mình sáng tác như đánh vật”. Nhưng ở khâu sửa lại, chứ ngay từ đầu thì cũng khá nhanh khi cho ra phần “thô”. Tôi rất nể Hàn Ngọc Bích khi ông có phẩm chất không nhiều người sáng tác có. Đó là rất cầu thị, phục thiện, chịu khó lắng nghe mọi lời góp ý của người khác, kể cả đó chỉ là một người rất bình thường, trình độ hiểu biết thấp như anh thợ cắt tóc, ông sửa xe đạp, bà ve chai.

Cố nhạc sĩ Hàn Ngọc Bích và vợ.
Cố nhạc sĩ Hàn Ngọc Bích và vợ.

Tôi nhớ mãi một lần chúng tôi hàn huyên tại một quán trà chén. Hàn Ngọc Bích hát cho tôi nghe một bài mới. Ông muốn nghe ý kiến của tôi. Rồi ông quay sang hỏi bà chủ quán: “Chị nghe thấy bài vừa rồi thế nào? Có nghe được không?”. Bà ta trả lời: “Tôi thì biết gì mà các anh hỏi”. “Không. Chị cứ nói đúng cảm nghĩ của mình. Nghe thấy hay, hay là ngang, không thích?”. Lúc này bà ta mới nói: “Tôi thấy trúc trắc, nghe không xuôi tai”.

Thế là sau đó, Hàn Ngọc Bích vứt hẳn bài đó đi mặc dù ông nói trước đó đã mất công cả tháng để viết nên. Ông còn trách tôi là không nói thẳng như bà bán quán kia. Nhưng ông nói: “Thực ra, ông tế nhị không nói ra nhưng cứ quan sát cái cách nghe của ông là tôi thấy bài của mình ra sao rồi”. Tuy nhiên có lần tôi nói với ông: “Bài Đưa cơm cho mẹ đi cày có câu “Mẹ để trâu cho con chăn, con chăn”.

Nếu đọc thì biết “chăn” ở đây là động từ. Nhưng nghe thì có thể nghĩ là danh từ, tức con trăn. Vậy nên chăng hãy sửa lại là “Mẹ để trâu cho con chăn, chăn trâu”. Tất nhiên, sửa lại về ý nghĩa không hay bằng trước nhưng tránh được ý nghĩ con trăn như đã nói. Hàn Ngọc Bích lấy làm tâm đắc, đồng ý ngay. Nhưng ông nói: “Tiếc là mình gặp ông muộn quá. Bài hát này thu thanh từ lâu, phổ biến mất rồi. Làm sao sửa lại được đây”.

Hàn Ngọc Bích có nhiều phẩm chất, nét tính cách khác người khiến tôi quý, nể. Trong khi nhiều người cũng có sáng tác ca khúc nhưng chẳng ai để ý, luôn tự xưng là nhạc sỹ ở mọi nơi thì ông lại chỉ coi mình là người yêu thích âm nhạc, sáng tác nghiệp dư mặc dù nổi tiếng, là hội viên Hội Nhạc sỹ Việt Nam từ lâu.

Ở đâu, nếu ai giới thiệu ông là nhạc sỹ, ông lập tức cải chính: “Tôi là nhà giáo, không phải nhạc sỹ”. Có người cho rằng kiểu cách của ông mới thực là kiêu. Ông bảo đó là vì tâm đắc với điều tôi vẫn nói: “Ở Việt Nam, chỉ có chừng mấy chục người xứng đáng được gọi là nhạc sỹ (compositeur) vì sáng tác được khí nhạc (nhạc không lời). Còn lại chỉ là người viết ca khúc (chansonnier)".

Lại có lần, nghe danh, người ta mời ông tham gia cuộc đi thực tế để sáng tác ca khúc dành cho người lớn. Ông nói luôn: “Tôi chỉ viết được bài hát cho thiếu nhi, không viết được cho người lớn”. Họ nể vì trót mời nên nói ông có thể viết đúng sở trường. Ông lại thẳng thắn: “Trong số các nhạc sỹ được mời có nhiều người viết cho thiếu nhi cũng rất hay. Họ có thể kết hợp sáng tác nếu các đồng chí thực sự cần. Nhưng tôi nghĩ ngành của các đồng chí chẳng nên vẽ ra ca khúc thiếu nhi làm gì”.

Người nhạc sỹ được các thế hệ thiếu nhi rất yêu quý này có người vợ thật tuyệt vời. Bà tên là Nguyễn Thị Thanh, đồng nghiệp với chồng, cùng là giáo viên, là người xinh xắn và hiền hậu, đứng mũi chịu sào trong suốt những năm tháng khó khăn, gian truân nhất để chồng yên tâm công tác và sáng tác. Mối tình “sét đánh” của ông với vợ cùng với tình bạn với nhạc sỹ Hoàng Long - cũng là một nhạc sỹ chuyên viết cho thiếu nhi nổi tiếng - đã thôi thúc ông đến với sáng tác nhạc cho tuổi thơ.

Cách đây 3 năm, Hàn Ngọc Bích qua đời tại Bệnh viện 354 bởi bệnh ung thư phổi. Khi gia đình đã biết ông sắp ra đi vĩnh viễn thì nhạc sỹ vẫn không hay biết gì, vẫn hồn nhiên với những dự định về công việc nghiên cứu và sáng tác. Bạn bè đến thăm, ông vẫn vui cười, rôm rả đàm đạo mọi chuyện, vẫn âm ư hát bài của các bạn thân là nhạc sỹ. Đến lúc 2h30 ngày 1/5/2015, ông thanh thản ra đi, để lại những giai điệu sống mãi với các thế hệ tuổi thơ Việt Nam, không bao giờ có thể phai nhòa.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.