Một lần nghe Xuân Diệu nói chuyện

Nhà thơ Xuân Diệu (1916 -1985) là một thi sĩ lớn. Ông được coi là trụ cột của phong trào Thơ mới trước Cách mạng tháng 8 và được mệnh danh là “ông hoàng thơ tình” bởi là tác giả nhiều bài thơ tình nồng nàn, cháy bỏng khát vọng yêu đương được độc giả đương thời truyền tụng. Thơ tình của ông vừa lãng mạn, đam mê, vừa thâm thúy, sâu sắc.

Ông còn là một nhà phê bình, lý luận, thẩm thơ sắc bén, tinh tế và uyên bác. Ngoài ra, ông cũng nổi tiếng trong lĩnh vực nói chuyện thơ trước mọi đối tượng. Những buổi nói chuyện về thơ của ông luôn thu hút một số lượng đông đảo người nghe.

Lần đầu tiên, tôi được nghe Xuân Diệu nói chuyện trực tiếp là mùa đông năm 1963. Khi ấy, tôi học lớp 10 Trường phổ thông cấp 3 Chu Văn An, Hà Nội. (Trước đó, vì rất yêu thích văn học, luôn là học sinh giỏi môn này nên tôi đã biết ông nhưng mới chỉ qua đọc thơ và nhìn ảnh ông trên sách báo). Ông được Ban Giám hiệu nhà trường mời đến nói chuyện cho toàn thể giáo viên bộ môn văn và những học sinh diện khá môn này của toàn trường nghe (cả 3 khối 8, 9, 10. Mỗi khối có 8 lớp từ A đến I, vị chi 24 lớp. Phổ thông ngày ấy chỉ có 10 năm). Tổng cộng tất cả cũng tới gần 100 người cả thầy và trò, được tổ chức trong phòng hàng ngày vẫn là phòng họp của Hội đồng nhà trường. Hôm ấy kê thêm ghế và bầy đặt lại, có lọ hoa to để đón nhà thơ nổi tiếng.

Một lần nghe Xuân Diệu nói chuyện -0

Vì rất háo hức chờ đợi cuộc nói chuyện này nên tôi đã đến sớm 20 phút so với giờ quy định.

Biết nhà thơ đã đến trước cả tôi, đang ngồi ở phòng thầy Hiệu trưởng nên tôi tò mò, cứ đi qua đi lại phòng này để nhìn Xuân Diệu. Tôi nhận ngay ra nhà thơ vì đã nhiều lần nhìn thấy trong sách, báo với mái tóc xoăn tự nhiên, đôi mắt to, đeo chiếc kính trắng. Trông ông rất đẹp.

Thấy một cậu học trò cứ qua lại có ý nhìn mình, Xuân Diệu vẫy tôi vào. Nhưng tôi không dám mặc dù rất muốn. Nhận ra sự rụt rè của tôi, ông cất lời:

- Cứ vào đây, em, không ngại. Thầy Hiệu trưởng cho phép mà.

Thầy Hiệu trưởng cũng nói:

- Em vào đi.

Tôi chào nhà thơ và mấy thầy trong phòng. Xuân Diệu lại hỏi tôi:

- Còn bạn nào nữa không, nói các bạn cứ vào.

- Thưa, không ạ. Còn 20 phút nữa mới đến giờ ạ.

Bứt ra khỏi Ban Giám hiệu đang tiếp mình, Xuân Diệu quay sang hỏi tôi:

- Em có thích thơ không? Nếu thích thì có đọc thơ Xuân Diệu bao giờ không?

Tôi chưa kịp trả lời thì thầy Hiệu trưởng nói:

- Thưa anh. Các em hôm nay đến nghe anh nói chuyện toàn là học sinh giỏi môn văn của toàn trường đấy ạ nên chắc chắn là phải thích thơ văn rồi. Em San, hãy trả lời nhà thơ hỏi là có đọc thơ Xuân Diệu không đi.

Tôi nói:

- Dạ, thưa. Không những em đọc nhiều thơ Xuân Diệu mà còn rất thích nhiều bài ạ.

Nhà thơ lớn hưng phấn hẳn:

- Ô! Chẳng hạn những bài nào?

Tôi quên rằng bên cạnh mình có mấy thầy giáo mà vẫn cứ rất tự nhiên đọc luôn:

- Em rất thích bài “Mùa thu tới”: “Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang/ Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng/ Đây mùa thu tới, mùa thu tới/ Với áo mơ phai dệt lá vàng”. Em còn thích cả bài có mấy câu sau: “Ai đem phân chất một mùi hương/ Hay bản cầm ca, tôi chỉ thương/ Chỉ lặng chuồi theo dòng cảm xúc/ Như thuyền ngư phủ lạc trong sương”.

Xuân Diệu khen tôi:

- Giỏi quá! Mà em chỉ thuộc những bài không phải là thơ tình. Này, nói đến Xuân Diệu, trước hết phải nói đến thơ tình đấy nhé. Em không thuộc bài nào sao? Năm nay em bao nhiêu tuổi?

- Thưa, em 17 tuổi ạ.

- 17 tuổi yêu quá đi ấy chứ. Ngày trước, 17 tuổi, tôi đã thích yêu lắm rồi nên mới làm được nhiều thơ tình đấy.

- Em cũng thuộc nhiều bài thơ tình của nhà thơ ạ.

- Đọc một bài xem nào?

Tôi lại cất giọng:

- Em xin đọc bài “Tương tư chiều” của nhà thơ: “Bữa nay lạnh, mặt trời đi ngủ sớm/ Anh nhớ em, em hỡi! Anh nhớ em/ Không gì buồn bằng những buổi chiều êm/ Mà ánh sáng mờ dần cùng bóng tối/ Gió lướt thướt kéo mình qua cỏ rối/ Đêm bâng khuâng đôi miếng lẩn trong cành/ Đàn chim tìm về dãy núi xa xanh...”.

Tôi vừa ngừng lời, Xuân Diệu vỗ tay: -Bravo! Bravo! (Hoan hô! Hoan hô!). Em có giọng đọc thơ rất hay, truyền cảm, lôi cuốn người nghe. Lát nữa, tôi giới thiệu em đọc thêm mấy bài nữa của Xuân Diệu cho mọi người nghe nhé.

Thầy Hiệu trưởng tiếp lời nhà thơ:

- Em San vẫn ngâm thơ và diễn kịch ở trường đấy ạ.

- Tốt lắm. Lát nữa, em cứ đọc lại mấy bài vừa rồi nhé.

Tôi khấp khởi trong lòng. Đúng lúc ấy, một thầy giáo đến mời nhà thơ ra phòng Hội đồng vì đã đến giờ.

Phòng có thể ngồi được hàng trăm người nhưng vì một số bạn và một số thầy, cô vắng mặt nên còn rỗng, thừa nhiều ghế. Sau tràng vỗ tay kéo dài chào đón Xuân Diệu bước vào phòng. Đáp lễ mọi người xong, ông nói luôn:

- Còn nhiều chỗ để không, phí quá. Đề nghị Ban Giám hiệu huy động các thầy, trò đến nghe. Mấy khi đón được Xuân Diệu đến. Tôi rất bận, phải thu xếp mãi mới có thể đến thế này.

Thầy Hiệu trưởng báo cáo với nhà thơ là hiện lúc này các thầy cô có giờ thì đang đứng lớp. Ai không có giờ thì được phép ở nhà. Tại trường chỉ có mấy người làm ở bộ phận Hành chính. Xuân Diệu nói:

- Vậy hãy cho mời tất cả các anh chị em hành chính kể cả lao công, tạp vụ, bảo vệ đến nghe. Xuân Diệu không chỉ phục vụ giới có học mà còn rất thích nói chuyện cho người lao động bình thường nghe. Chính họ mới là đối tượng đầu tiên của văn nghệ đó. Các đồng chí không được xem thường.

Ngay lập tức, đích thân thầy Hiệu phó đi mời tất cả mọi người còn lại của trường dừng việc để đến dự buổi nói chuyện. Chỉ vài phút sau, các ghế đã có người ngồi chật. Xuân Diệu tỏ sự hài lòng và nói:

- Lần sau, các đồng chí hãy tổ chức vào buổi tối để tất cả thầy, trò, cán bộ, nhân viên được nghe. Và phải đưa ra hội trường mới đủ chỗ. Hội trường trường ta tôi thấy rộng và đẹp đấy.

Cuộc nói chuyện bắt đầu. Xuân Diệu gây ấn tượng mạnh, lôi cuốn người nghe ngay từ phút đầu tiên khi trước hết ông đọc tặng mọi người một bài thơ vừa sáng tác coi như món khai vị. Ông có lối đọc rất hấp dẫn bằng cái giọng trẹ của Hà Tĩnh lại pha hơi hướng khu 5 nghe thật thú vị, nhất là biết thay đổi tiết tấu, khi dồn dập, khi khoan thai theo cảm xúc bài thơ. (Ông quê Hà Tĩnh nhưng lớn lên ở Bình Định).

Nói được chừng nửa giờ, bỗng Xuân Diệu đột ngột dừng lại, hỏi mọi người:

- Các thầy và các em có dạy và học "Truyện Kiều" trong chương trình không?

Tất cả trả lời:

- Có ạ.

Nhà thơ hỏi tiếp:

- Vậy có học đoạn Thuý Kiều đánh đàn cho Kim Trọng nghe không?

Lại đồng thanh trả lời:

- Có ạ.

- Vậy các thầy, trò có nhớ Nguyễn Du miêu tả tiếng đàn của Kiều như thế nào không?

Một trò nhanh nhẩu giơ tay và được nhà thơ mời nói:

- Thưa nhà thơ. Nguyễn Du miêu tả tiếng đàn của Kiều là “Trong như tiếng hạc bay qua/ Đục như nước suối mới sa nửa vời/ Tiếng khoan như gió thoảng ngoài/ Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa”.

- Khá lắm. Em rất giỏi, chắc là học sinh xuất sắc về môn văn đây.

Xuân Diệu hỏi tiếp:

- Còn đoạn thơ nào tả thái độ, cách thưởng thức của Kim Trọng khi nghe Kiều đánh đàn?

Câu này thì học sinh có vẻ bí. Nhà thơ hướng sang các thầy, cô giáo:

- Thầy, cô nào trả lời giúp các em nào?

Một thầy còn trẻ, chỉ chừng 30 tuổi giơ tay rồi đứng lên nói:

- Thưa nhà thơ. Đó là các câu: “Khi tựa gối, khi cúi đầu/ Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày” ạ.

- Rất đúng. Đó. Các thầy, các em có thấy cái chàng Kim Trọng đó có cách thưởng thức Kiều đánh đàn rất tâm đắc, thể hiện sự đồng cảm, ngưỡng mộ tuyệt vời dành cho người đánh đàn không? Anh chàng chẳng những chăm chú, tán thưởng Kiều đánh đàn mà còn bộc lộ rõ mọi xúc cảm ra bên ngoài khiến Kiều càng tăng thêm hứng thú, càng “bốc” hơn để tiếp tục đánh đàn hay hơn trước. Kim Trọng quả là một công chúng biết thưởng thức, sành thưởng thức. Chứ cứ ngồi ngay như phỗng, không biểu hiện gì thì dù có hâm mộ tiếng đàn của Kiều bao nhiêu cũng không thể khiến nàng cao hứng biểu diễn. Tiếc rằng không phải ai cũng biết thưởng thức như Kim Trọng. Tất nhiên, không nhất thiết cứ phải “tựa gối, cúi đầu, vò chín khúc, chau đôi mày” mới là biết thưởng thức mà chỉ cần vỗ tay cũng là biết hưởng ứng, biết nghe một cách rất văn minh, lịch sự vậy.

Nghe Xuân Diệu nói thế, các thầy, cô hôm đó hiểu ngay vấn đề. Họ đã lập tức vỗ tay hồi lâu để tán thưởng. Và từ phút đó, cứ mỗi khi nhà thơ nói ý nào chí lý, họ lại vỗ tay. Không khí từ phút ấy sôi động hẳn khiến Xuân Diệu rất hài lòng.

Sau buổi nói chuyện, ai nấy ngoài việc tán thưởng nội dung Xuân Diệu đem đến cho người nghe còn thú vị mãi cái cách nhà thơ gợi ý người ta vỗ tay cổ vũ mình. Ông quả là rất thông minh và hóm hỉnh vậy.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.