Kỷ niệm 110 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Trường Chinh (9/2/1907 - 9/2/2017)

Một "kiến trúc sư" của nền văn hóa văn nghệ cách mạng

Tham gia cách mạng từ năm 18 tuổi, giữ nhiều trọng trách của Đảng và Nhà nước - mà cao nhất là Tổng Bí thư của Đảng - Trường Chinh là tấm gương một chiến sĩ cách mạng kiệt xuất, chiến đấu không biết mỏi mệt, từ lúc đánh giặc ngoại xâm đến khi làm "kiến trúc sư" của công cuộc Đổi mới, đưa đất nước chuyển sang một trang lịch sử hiện đại ở thời bình. Chưa nói đến những hoạt động rất đa dạng và hết sức quan trọng, chỉ riêng lĩnh vực văn hóa văn nghệ, theo tôi, Trường Chinh cũng là một "kiến trúc sư" ngay từ thời Cách mạng Tháng Tám.

Trong lúc chuẩn bị tổng khởi nghĩa, giành độc lập cho nước nhà với bao công việc bộn bề, thiết thực, liên quan trực tiếp đến vận mệnh đất nước, văn hóa văn nghệ vẫn được Đảng coi trọng. Ngay sau cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng ngày 25-3-1943, Hội Văn hóa cứu quốc thành lập và "Đề cương văn hóa" - mà người soạn thảo là Trường Chinh - đã ra đời.

Dù khó tránh hết những hạn chế do hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ, "Đề cương văn hóa" xác định: văn hóa cùng với chính trị kinh tế là ba mặt trận của Đảng; và "Đề cương văn hóa" có hai tác dụng cấp thiết: đề xuất phương hướng cho một nền văn hóa văn nghệ mới, tập hợp lực lượng trí thức (chính vì vậy, hầu hết các nhà trí thức bấy giờ đã nhanh chóng, tích cực cùng toàn dân đứng lên làm tổng khởi nghĩa, và sau đó đi chiến khu tham gia kháng chiến).

"Đề cương văn hóa" nhấn mạnh ba nguyên tắc: "Dân tộc hóa, Khoa học hóa, Đại chúng hóa" - mà sau đó, Trường Chinh đã giải thích rõ trên Báo Tiên phong:

"Phàm cái gì chống lại tinh thần dân tộc độc lập, thống nhất phải thẳng cánh đập tan.

Phàm cái gì trái khoa học, phản tiến bộ phải kiên quyết bài trừ.

Phàm cái gì phản đại chúng, xa đại chúng phải nhất quyết phê phán.

Bác Hồ với Tổng Bí thư Trường Chinh .
Bác Hồ với Tổng Bí thư Trường Chinh .

Ba nguyên tắc trên đây là cái khâu của một sợi dây chuyền. Nó có tính cách liên hoàn. Không thể hoàn thành nhiệm vụ vận động văn hóa mới Việt Nam nếu ta bỏ sót một nguyên tắc nào trong ba nguyên tắc ấy".

Đến năm 1948, tại Đại hội văn hóa toàn quốc lần thứ hai (Đại hội lần thứ nhất họp năm 1946, phải bỏ dở do giặc Pháp gây hấn), Trường Chinh trình bày bản báo cáo "Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam". Đây là công trình hoàn thiện hơn cả của ông và là cơ sở vững chắc cho đường lối xây dựng nền văn hóa văn nghệ cách mạng. Tinh thần khoa học cùng với một văn phong mạch lạc, khúc chiết, chặt chẽ làm cho bản báo cáo đầy sức thuyết phục và sinh động, hấp dẫn; không chỉ có tác dụng vào thời ấy mà vẫn có nhiều vấn đề còn nóng hổi tính thời sự cho đến tận bây giờ, thậm chí cả sau này.

Nói về quan hệ giữa nghệ thuật và tuyên truyền, ông viết:

"Nghệ thuật và tuyên truyền không hoàn toàn khác nhau, nhưng cũng không hoàn toàn giống nhau. Tuyên truyền cao tới một mức độ nào đó thì tuyên truyền trở thành nghệ thuật. Nghệ thuật thiết thực tới một mức độ nào đó thì nghệ thuật có tính chất rõ rệt là tuyên truyền".

Không nên quên Trường Chinh cũng trực tiếp tham gia hoạt động báo chí, ngoài việc phụ trách ông còn viết báo và được coi là một nhà báo sắc sảo, tài năng. Đặc biệt, ông say mê thơ, sáng tác khá nhiều thơ; khi in trên sách báo thường ký với bút danh Sóng Hồng. Thơ ông sáng tác đã in hai tập. Lần in đầu ở Nhà xuất bản Văn học: tập I, 1966; tập II, 1974. Sau đó còn in trong một số quyển sách khác.

Trường Chinh tâm sự một cách khiêm nhường: "Tôi là một cán bộ cách mạng biết làm thơ, không phải là một nhà thơ". Tuy nhiên, thơ ông vẫn được nhiều người đọc và ông vẫn được nhiều người coi là một nhà thơ. Tôi thích bài "Đi họp", vừa mang phong vị cổ kính, vừa có tính hiện đại, lại thấy có phảng phất lối thơ "khẩu khí" của các cụ nhà nho thời xưa, nhưng đây không phải khẩu khí của một người thường. Bài thơ này tác giả viết ở rừng Việt Bắc cuối năm 1953:

Vút ngựa vượt qua đèo,
Rì rầm tiếng suối reo.
Xuống đèo trời mới tối,
Vằng vặc mảnh trăng treo.

Ngựa mỏi đi bước một,
Người suy nghĩ vấn vương.
Nhiều khi ý kiến lớn
Vụt đến lúc đi đường.

Đêm lạnh, cành sương đượm,
Long lanh bóng nguyệt vờn.
Nhà ai bếp vẫn đỏ,
Thấp thoáng ở sườn non?

Đường xa, cơn gió rít
Xao xác chim cầm canh.
Hội nghị mai họp sớm,
Băm băm ngựa bước nhanh.

Tôi đã từng có dịp viết về bài thơ "Là thi sĩ" của Sóng Hồng. Nhân đây xin nói rõ hơn một chút: Bài thơ, như tác giả đã ghi ở cuối: viết ở ngoại thành Hà Nội, tháng 6 năm 1942. "Là thi sĩ" đầu tiên đăng báo bí mật, sau Cách mạng Tháng Tám mới đăng trên báo công khai ở Hà Nội.

Ta hãy đọc vài đoạn:

LÀ THI SĨ

  (Tặng các nhà thơ Việt Nam)

Nếu "thi sĩ nghĩa là ru với gió,
Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây"
Để tâm hồn treo ngược ở cành cây,
Hay lả lướt đìu hiu cùng ngọn liễu;
Nếu thi sĩ nghĩa là nhăn với mếu,
Nghĩa là van Thượng đế rủ lòng thương,
Hồn bơ vơ lạc lõng ở mười phương,
Khóc rả rích như ve sầu tháng hạ;
Nếu thi sĩ vùi đầu mài miệt tả
Cặp "tuyết lê" hồi hộp trước tình yêu,
Cho cuộc đời là mộng ảo cao siêu,
Chìm đắm ở thương hoa và tiếc ngọc;
Nếu thi sĩ nghĩa là đem gấm vóc
Phủ lên trên xã hội đã điêu tàn,
Véo von ca cho át tiếng kêu than
Của nhân loại cần lao đang giãy giụa;
Thì bạn hỡi, một nhà thơ như rứa
Là tai ương, chướng họa của nhân quần...

Tác giả còn phê phán các nhà thơ kiểu này mạnh hơn nữa ở những câu sau đó, nhưng vẫn coi trọng họ, khích lệ họ:

Không, không được! Hỡi các nhà văn nghệ,
Các nhà thơ yêu dấu của đồng bào,
Các nhà thơ trong sạch và thanh tao,
Hoa thơm ngát trong vườn xuân đất Việt!
Là thi sĩ phải là hồn cao khiết,
Chí kiên cường và sức mạnh cao siêu;
Ca tự do, tiến bộ với tình yêu
- Yêu nhân loại, hòa bình và công lý -
Cao giọng hát những bài ca chính khí
Của anh hùng đã vì nước quên mình,
Sống quang vinh mà chết cũng quang vinh,
Của Bãi Sậy, Thái Nguyên và Yên Bái...
Là thi sĩ nghĩa là theo gió mới
Tìm ý thơ trên ngọn sóng Bạch Đằng.
Để tâm hồn dào dạt với Chi Lăng,
Làm bất tử trận Đống Đa oanh liệt.
Dốc cho hết cả một bầu nhiệt huyết,
Tưới tâm can đồng loại lúc tàn đông;
Thả trái tim hòa nhịp với Đô Lương,
Với Lục Tỉnh, Bắc Sơn và Đình Cả.
Là thi sĩ nghĩa là cao khúc họa
Cuộc đấu tranh vĩ đại của hoàn cầu
Chống hung tàn xâm lược khắp năm châu.
Trên trái đất dựng cao cờ dân chủ.
Dùng ngòi bút làm đòn xoay chế độ,
Mỗi vần thơ: bom đạn phá cường quyền,
Và lúc cần, quẳng bút lấy long tuyền.

("Long tuyền" là tên gọi thanh gươm báu ngày trước)

Như vậy, nghe giọng thơ ở "Là thi sĩ" và đọc những dòng đầu của bài thơ với lời đề tặng, người đọc sẽ nghĩ ngay đến bài thơ "Cảm xúc" của nhà thơ Xuân Diệu, viết năm 1933, cũng là một giọng thơ, cũng có lời đề tặng, và nhất là có hai câu đầu mà bài "Là thi sĩ" đã sử dụng:

CẢM XÚC

Tặng Thế Lữ

Là thi sĩ, nghĩa là ru với gió,
Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây,
ể linh hồn ràng buộc bởi muôn giây,
Hay chia xẻ bởi trăm tình yêu mến...

Cũng do đó mà đã có các nhà nghiên cứu, các nhà giáo cho rằng "Là thi sĩ" được Sóng Hồng viết để đấu tranh trực diện với quan niệm về thơ trong bài "Cảm xúc" của nhà thơ Xuân Diệu. Tuy nhiên, theo chính nhà thơ Sóng Hồng cho biết thì bài "Là thi sĩ" ông viết năm 1942 là để giúp một chị binh vận tuyên truyền một anh thư ký của nhà binh Pháp (xem "Trường Chinh: Tuyển tập văn học" tập II, tr.295-296, Nhà xuất bản Văn học, 1997).

Người đọc cũng không quên, có một dịp rất hiếm hoi (viết theo yêu cầu của Nhà xuất bản Văn học ở những dòng in đầu tập "Thơ" của ông) nhà thơ Sóng Hồng đã nói trực tiếp quan niệm của nhà cách mạng Trường Chinh về thơ.

Thật vinh dự cho thơ, cho các nhà thơ, khi được nghe một nhà cách mạng kiệt xuất nói về thơ như thế này:

- Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi.

- Thơ là nghệ thuật kỳ diệu bậc nhất của trí tưởng tượng.

- Thơ là một viên ngọc kim cương long lanh dưới ánh sáng mặt trời. Thơ là thơ, đồng thời cũng là vẽ, là nhạc, là chạm khắc theo một cách riêng.

- Thơ tức là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp. Thơ không chỉ nói lên tình cảm riêng của nhà thơ, mà nhiều khi thông qua tình cảm đó nói lên niềm hy vọng của cả một dân tộc, những ước mơ của nhân dân, vẽ nên những nhịp đập của trái tim quần chúng và xu thế chung của lịch sử loài người...

Hồng Diệu

Các tin khác

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...