Nhà thơ, nhà báo Trần Đức:

Một giọng thơ trào phúng giản dị mà mạnh mẽ

Trần Đức là chiến sĩ Công an, từng là hộ tịch viên (Cảnh sát khu vực) rồi trở thành nhà báo, phụ trách tờ tin Công an Hà Nội lưu hành nội bộ và sau này là Báo An ninh Thủ đô, tiếng nói của lực lượng Công an Thủ đô và phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc. Cùng với chương trình "Vì an ninh Tổ quốc" của Bộ Công an trên Đài Tiếng nói Việt Nam, Báo An ninh Thủ đô ra công khai sau khi miền Nam giải phóng, thống nhất đất nước năm 1975.

Việt Nam có những nhà thơ trào phúng kiệt xuất, lưu danh đời đời, như Hồ Xuân Hương, Trần Kế Xương (tức Tú Xương). Sau đó, có nhà thơ Hồ Trọng Hiếu, bút danh Tú Mỡ cũng có dòng thơ trào lộng, được công chúng ưa thích, mến mộ.

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945 tới nay, thơ trào phúng xuất hiện đều trên báo chí, nhất là trong hai cuộc chiến tranh chống xâm lược. Thơ trào phúng tập trung đả kích, vạch mặt kẻ thù và bọn tay sai, đồng thời phê phán những tiêu cực, tệ nạn trong đời sống cộng đồng.

Năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, trên báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng xuất hiện đều mảng thơ trào lộng này, nhất là gần đây, thơ tập trung lên án nạn tham nhũng, quan liêu, bọn tha hóa đạo đức, nhân cách, làm giàu bất chính và các tệ nạn xã hội, làm xói mòn, tổn hại đời sống, tình yêu cuộc sống lành mạnh của nhân dân.

Nhà thơ Ngô Văn Phú cho biết, trước đây, trong những cuộc trao đổi về thơ trào phúng, các nhà thơ Tú Mỡ, Nguyễn Đình, Xích Điểu, Thợ Rèn, Phấn Đấu, Thôi Sơn, Lã Vọng và cả nhà thơ Chế Lan Viên, Hoàng Trung Thông (bút danh Đặc Công) đều muốn có những cây bút chuyên trào phúng - trữ tình.

Mọi người đồng tình đánh giá của nhà văn Nguyễn Tuân về nhà thơ lớn Tú Xương: "Trào phúng - trữ tình là phẩm chất nghệ thuật của những cây bút lớn, Tú Xương là như vậy".

Tú Xương lấy cái "chân phải" trữ tình mà khiến cái "chân trái" tả thực, chủ đạo cho đà thơ là ở "chân phải" và Tú Xương đã băng được mình thơ tới chúng ta, bằng nước bước "lãng mạn trữ tình".

Trần Đức là chiến sĩ Công an, từng là hộ tịch viên (Cảnh sát khu vực) rồi trở thành nhà báo, phụ trách tờ tin Công an Hà Nội lưu hành nội bộ và sau này là Báo An ninh Thủ đô, tiếng nói của lực lượng Công an Thủ đô và phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc. Cùng với chương trình "Vì an ninh Tổ quốc" của Bộ Công an trên Đài Tiếng nói Việt Nam, Báo An ninh Thủ đô ra công khai sau khi miền Nam giải phóng, thống nhất đất nước năm 1975.

Ngoài nhiệm vụ Tổng biên tập, ông dành thời gian, tâm huyết, phấn đấu theo các bậc tiền bối về nghệ thuật thơ trào phúng. Ông đã xuất bản 4 tập thơ về đề tài này: "Thiếu một người", "Có một phiên tòa", "Sấp ngửa", "Hai vòng hoa héo" được người đọc đón nhận.

Nhà thơ, nhà báo Trần Đức.
Nhà thơ, nhà báo Trần Đức.

Nhiều khía cạnh cuộc sống được ông khai thác, đề cập: Tệ nạn tham nhũng, quan liêu, làm ăn bất chính, buôn lậu, nạn ma túy và các tiêu cực, tệ nạn phát sinh trong đời sống cộng đồng v.v... Phải căm ghét lắm mới có câu thơ như thế này: "Tên tham nhũng luôn mồm nói sống sáng trong/ Sao rợn lạnh như chim lợn kêu báo điều dữ đến/ Có khác gì lời cô gái điếm/ Khoe xúng xính mảnh "voan" trinh bạch thuở thanh tân".

Ông nhận xét chức danh ma giáo trên một tờ danh thiếp: "Gần chục chức danh trên tờ danh thiếp/ Mới thoáng nhìn, tưởng hắn tài ba/ Đâu biết "danh" ấy mua bằng tiền ăn cắp/ Giữa cuộc đời, hiển hiện một thằng ma".

Và đây là cảnh trớ trêu hai bố con một người tham nhũng, qua lời kể của đứa con rơi của anh ta:

Ông ta bỏ mẹ con tôi?/ Khi tôi chưa đủ hình hài/ Mẹ tôi "mất" đời con gái/ Đẻ con biết đặt họ ai/ Tôi sống những ngày lông bông/ Mẹ bận kiếm ăn tối mặt/ Một lần, tôi đi ăn cắp/ Dao rạch đúng cặp ông ta/ Và rồi xảy ra chuyện bất ngờ/ Mẹ tôi gặp "người tình" cũ/ Bối rối, sững sờ, bỡ ngỡ/ Cúi đầu, ông lên ôtô/ Trời hỡi, trái đất tròn vo/ Tôi gặp lại ông trong trại/ Cuộc đời trớ trêu thế đấy!/ Có ai như bố con tôi?

Tác giả gặp một "ông VIP" trong cuộc hỏi cung, qua một vụ tham ô vỡ lở:

"Phòng hỏi cung tôi gặp anh ta/ Lời khai nào cũng tiếng dạ, thưa/ Hàng râu kiến xếch theo môi rệch/ Mặt chữ điền rúm bộ sọc dưa".

Và anh ta trong bữa ăn ở trại: "Tôi thấy anh trong bữa cơm tù/ Thịt thà còn ít, chỉ rau dưa/ Mà sao ánh mắt đầy háo hức/ Khác tiệc tùng xưa, rặt mứa thừa...".

Và cảnh đến hầu nhà "sếp" thật tức cười: "Ngày ấy, đến cả người quen lẫn lạ/ Lưng không gù, nhưng dáng vẫn lom khom/ Mắt sùm sụp hòa nét mặt nghiêm trang/ Rón rén bước đi cẩn trọng".

Họ là bọn người thạo ngón nịnh bợ, mưu danh lợi cho mình, khi "sếp" cũ ra đi, lập tức đến nhà "sếp" mới: "Giờ họ chắc đến hầu cửa khác/ Lại tiếng rên ken két đóng mở không ngơi".

Trò cũ, nhưng lặp lại như "lẽ sống" của mấy kẻ xu nịnh, theo đóm ăn tàn.

Một cô tiếp viên phục vụ đám thực khách ăn tiệc bằng tiền chùa: "Mặt phởn phơ, thắt lưng nới dài hết cỡ/ Ran tiếng cười hô hố/ Sậm sánh rượu hồng, sủi trắng bọt bia...".

Mặt cô tiếp viên chợt sững sờ khi nghe tiếng phát thanh viên: "Các em trường Nguyễn Đình Chiểu tháng tới hết tiền ăn". Cô tiếp viên có em trai mù bẩm sinh đang học ở trường này. Đám thực khách đâu biết tâm trạng người hầu bàn ấy.

Tác giả nêu một tên lừa đảo đóng vai khá đạt: "Em là "em gái" Bộ trưởng/ Em là "con nuôi" Thủ tướng/ Em là, em là.../ Lấp lửng gần xa/ Danh xưng nghe như thật/ Chạy dự án mở đường, trường học/ Chạy xuất hàng chính ngạch, xin cấp thẳng "Côta"/ Chạy "trắng án" khi phải hầu Tòa/ Chạy "ghế thơm" để dễ bề vơ vét...".

Nhiều người sập bẫy, tiền mất, tai vạ vào thân, có trường hợp vướng vòng lao lý.

Bốn câu kết một bài thơ nói mấy kẻ bôi nhọ đạo đức người thầy thuốc thật ai oán: "Chiếc blu trắng kia ơi!/ Ơi kìa, chiếc blu xanh màu nước biển/ Có nhầu nhĩ, có khép tà hổ thẹn/ Trắng xanh, xanh trắng nhạt nhòa...".

Ông đau xót gặp một đám tang: "Đám tang đầy hoa trắng/ Dừng bên phố đông/ Người mẹ run rẩy đặt bát hương/ Trên vỉa hè nơi tim con trai bà ngừng đập".

Tác giả tả nỗi buồn của người mẹ mất con trai chết vô cớ:

“Ôi chỉ lời khích bác bâng quơ/ Cái nhìn thách đố/ Hai anh con trai coi nhau như kẻ tử thù/ Để hôm nay/ Mấy làn nhang thảng thốt, bơ vơ".

Và hai nhân vật đối mặt với nhau, một nhân viên quản lý thị trường mất chất và một tên buôn lậu: "Đặt hai cây vàng cho qua "thủ tục"/ Thấy anh ta cười cười/ Những tên buôn lậu hiểu ngay/ Thằng khốn này nó "cười mơi" đấy...".

Ông ghi khắc khá đậm nét một cảnh đời: "Dấu vết bà lão ăn mày/ Đầu gậy hắn mặt đất/ Dấu vết lũ gian tham/ Miếng cháy chia nhau bao gia đình lương thiện".

Tính nhân đạo thể hiện cả nơi pháp trường: "Ngôi mộ mới vất vơ hương khói/ Người thi hành án thắp cho người tử tội".

Một nỗi buồn và đau khổ cho hai gia đình tranh chấp đất đai, gây cái chết đau xót: "Cây ruối bờ rào chung vẫn nẩy lộc lá xanh/ Mái bếp hai nhà khói lam vờn tỏa/ Một người hàng xóm, nạn nhân vụ tranh lối vào dần xanh màu cỏ/ Là nỗi buồn trùm khắp xóm thôn day dứt mãi khôn nguôi".

Tác giả đặt dấu hỏi cho ai đấy đến Đền Bà Chúa kho "vay tiền": "Trong nhang khói mờ bay/ Chúa hỡi! Bà có hay? Thiên hạ vay "vàng" giấy?/ Mơ giầu có trong tay/ Vàng sáng nhuộm lòng đen/ Giữa cuộc đời đơn bạc/ Lòng thành khi tới Đền/ Ra về thiện hay ác?".

Một cô gái bị tạt axít. Ông đau xót kêu lên: "Em là nạn nhân của con thú ác/ Chẳng run tay vung thứ nước giết người/ Để giờ đây/ Khuôn mặt kiều diễm em đâu rồi?/ Đôi mắt trong trẻo em đâu rồi?/ Đâu rồi?/ Đâu rồi?...".

Bà mẹ chồng cay nghiệt dẫn đến cái chết oan nghiệt của cô con dâu suy cạn, nghĩ nông: "Làng quê đâu yên ả/ Bão nổi giữa trời quang/ Mưa ngập trời trăng tỏ/ Chuyện xảy đến ngỡ ngàng/ Đám tang trắng mầu trắng/ Thảm tiếng khóc ơ hờ/ Nỗi đau dài năm tháng/ Cùng màu xanh nấm mồ".

Tuy nhiên, không ít người bực tức khi đọc thơ Trần Đức vì nó "động" đến họ, những đối tượng tham nhũng, tha hóa, đang bị xã hội lên án và bị pháp luật xử lý nghiêm khắc...

Cả cuộc đời làm nghề báo, nhưng ông dấn thân không mệt mỏi trên lĩnh vực văn chương. Trần Đức đã có "duyên" là đồng tác giả với nhà thơ Tú Mỡ trong Diễn đàn "Nâng cao cảnh giác, đập tan nanh vuốt giặc Mỹ" về đấu tranh chống gián điệp trong kháng chiến chống Mỹ xâm lược, tiểu thuyết "Cây bàng lá đỏ" được dịch sang Hoa ngữ, một số truyện ngắn được dịch sang Anh ngữ và tuyển chọn trong các tuyển tập truyện ngắn hay của các Nhà xuất bản Hội Nhà văn, Thanh niên... Nhưng ông dồn nhiều tâm huyết, phấn đấu bền bỉ để theo các bậc tiền bối về nghệ thuật trào phúng. Hai trăm bài thơ, vốn liếng khá dồi dào.

Thơ trào phúng - trữ tình của Trần Đức có tính nhân văn, giá trị tinh thần thông qua ngôn ngữ giản dị, giàu biểu cảm, mạnh mẽ và dễ hiểu. Cấu trúc thơ ngắn gọn mà vẫn truyền tải được cảm xúc, có khi là câu chuyện có nhân vật, sự kiện và tình tiết. Nó được tiếp tục kế thừa nâng cao cả nội dung lẫn hình thức cho thơ trào phúng vốn được công chúng yêu thích.

Giọng thơ của Trần Đức lạ và quen, tạo cho mình một hành lang độc đáo, một giọng nói riêng biệt, cấu tứ lạ, có dư vị, biết khêu gợi vấn đề thiện ác, phân minh, đem đến cho chúng ta rung cảm sâu sắc và hướng thiện, có những nét riêng đáng ghi nhận.

Hoàng Hoan

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.