Một già làng Tây nguyên trong âm nhạc

Trong giới nhạc sỹ Việt Nam, hỏi ai là người am hiểu về Tây Nguyên nhất, sáng tác về vùng đất này được nhiều và hay nhất, câu trả lời sẽ là: Nhật Lai.

Người Hà Tây (cũ) hầu như không ai không biết một bài hát rất nổi tiếng: “Bóng chiếc thoi đưa, ánh mắt lung linh. Trời đất Hà Tây tay ai dệt lụa. Sữa trắng Ba Vì, thóc vàng khu Cháy. Hồn thơ Nguyễn Trãi dệt thành vân...”. Đó là bài “Hà Tây quê lụa” của cố nhạc sỹ Nhật Lai. 

Có thể nói đây là một trong những bài hát hay nhất viết về các địa phương. Từ khi ra đời và trở nên nổi tiếng, bài hát mặc nhiên được coi là tỉnh ca (bài hát truyền thống của tỉnh). Khi chưa sáp nhập về Hà Nội, bài này là nhạc hiệu của Đài PT&TH Hà Tây.

Liên quan đến Hà Tây, Nhật Lại còn một bài hát nữa cũng rất quen thuộc với người dân nơi đây – “Bài ca anh Hồ Giáo” viết về người anh hùng trong lĩnh vực nông nghiệp: “Bạn hỡi thuở xưa tiếng khèn pi. Mây suối lắng nghe phải ngừng trôi. Con thú ngẩn ngơ quên rừng núi...”. 

Nếu người Hà Tây coi Nhật Lai như là người con của quê hương mình thì người Quảng Bình cũng rất yêu quý nhạc sỹ bởi ông có một bài thật đáng yêu: “Bài ca bên sông Nhật Lệ” ra đời trong những tháng năm hào hùng nhất của mảnh đất nhiều cát trắng này: “Kể ta nghe Nhật Lệ sông ơi. Những chiến công tô thắm tên người...”.

Cố nhạc sỹ Nhật Lai.
Cố nhạc sỹ Nhật Lai.

Mấy bài hát vừa nhắc ở trên rất quen biết đối với công chúng yêu âm nhạc cả nước. Nhưng tên tác giả - Nhật Lai – thì không hoàn toàn thân thuộc giống như nhiều nhạc sỹ khác. Thậm chí có người tác phẩm thì chỉ tầm tầm, thường thường bậc trung, không thể so được với Nhật Lai mà tên tuổi lại nổi hơn. Âu đó cũng là chuyện giống như số phận của con người vậy. Và cuộc đời, nhân thân của ông lại càng không nhiều người biết.

Nhật Lai sinh ngày 12/5/1931, quê ở huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên với tên khai sinh là Nguyễn Tuân. Trông anh rất giống người Nhật nên đám bạn bè vẫn gọi là Nhật lai (lai người Nhật). Thế là đến khi sáng tác, ông lấy luôn cái tên này và khi trở thành nhạc sỹ gắn với nhiều tác phẩm nổi tiếng, trong giới nhạc, chẳng còn ai biết cái tên cha mẹ đặt lúc ra đời mà chỉ biết Nhật Lai (“Lai” từ đó phải viết hoa). Ông có người em ruột là nhà thơ Nguyễn Mỹ với bài thơ nổi tiếng “Cuộc chia ly màu đỏ” thế hệ thanh niên thời chống Mỹ không ai không biết, nhiều người thuộc làu.

Nghe một số bài hát cũng rất nổi tiếng viết về Tây Nguyên của Nhật Lai như “Chim Poong-kle”, “Cánh chim lạc đàn”, “Mặt trời Ê-đê”, “Tiếng hát Mơ-nông Ti-bri”..., đặc biệt là vở nhạc kịch (opéra) “Bên bờ Krông-pa”, nhiều người nghĩ ông sinh ra và lớn lên ở Tây Nguyên. Vở nhạc kịch này là một tác phẩm thanh nhạc đồ sộ, ngang tầm với hai vở cùng thể loại của Đỗ Nhuận là “Cô Sao” và “Người tạc tượng”. 

Lần đầu tiên tiếp xúc với Nhật Lai ở Hà Nội, nghe ông nói tiếng Nam Trung Bộ, lại không có vẻ gì là người vùng đất đỏ ba-zan, tôi có ý thắc mắc vì sao ông lại có những bài hát về Tây Nguyên và vở nhạc kịch hay như thế thì được biết: Lớn lên, ông nghe người ta nói nhiều về Tây Nguyên, trong đầu tưởng tượng ra một vùng đất đầy bí ẩn và kỳ thú, ông đã lên đây tham gia kháng chiến. 

Tại đây, Nhật Lai đã sinh hoạt, ăn, ở như một người bản địa thực thụ. Ông chịu khó đắm mình vào cuộc sống của bà con các buôn, rẫy, tham gia các sinh hoạt văn hóa, lễ hội... và đã dần nói thành thạo được tiếng của nhiều dân tộc như Ba-na, Ê-đê, Gia-rai, Mơ-nông. Đặc biệt, ông có tài săn bắn khiến các tay súng thiện xạ phải bái phục. 

Nhật Lai có người ông ngoại là thày dạy nhạc trong cung đình Huế, lại có nhiều người cậu chơi thành thạo nhiều nhạc cụ cổ truyền nên đã thấm những chất liệu này từ nhỏ. Với tình yêu dân ca sẵn có, lên Tây Nguyên, ông lao vào công cuộc sưu tầm, nghiên cứu dân ca các dân tộc nơi đây và là người đầu tiên khai thác một cách công phu nhất. 

Tất cả những người sau này tìm hiểu dân ca Tây Nguyên không thể không nghiên cứu, tham khảo những bước đi ban đầu nhưng rất kỳ công của ông. Trong giới nhạc sỹ Việt Nam, hỏi ai là người am hiểu về Tây Nguyên nhất, sáng tác về vùng đất này được nhiều và hay nhất, câu trả lời sẽ là: Nhật Lai.

Nhật Lai với “chiến lợi phẩm”trên tay trong một lần đi săn.
Nhật Lai với “chiến lợi phẩm”trên tay trong một lần đi săn.

Tôi không nhớ cụ thể ngày tháng năm nào nhưng nhớ rất rõ cái lần đầu tiên gặp và tiếp xúc với Nhật Lai tại 51 phố Trần Hưng Đạo (Hà Nội) – nơi có trụ sở của nhiều Hội nghệ thuật trong đó có Hội Nhạc sỹ Việt Nam. Đó là khi nước ta chưa được thống nhất, Nhật Lai vẫn còn ở Hà Nội. Hôm đó, đến Hội Nhạc sỹ, tôi thấy một người đàn ông trông cù mỳ, cũ kỹ, ăn mặc rất giản dị đến xuềnh xoàng, chẳng có chút vẻ gì là văn nghệ sỹ, càng không nhạc sỹ. 

Lúc đầu tôi cứ nghĩ một ai đó ở các địa phương hay cơ quan, đoàn thể nào đó đến đặt vấn đề mời các nhạc sỹ đi thâm nhập thực tế để sáng tác bài hát cho đơn vị họ (việc này thường xuyên diễn ra ở Hội Nhạc sỹ khi ấy). Sau đó mới biết đó là Nhật Lai. 

Tôi đã nghe danh ông từ lâu, lại thuộc hầu như gần hết những ca khúc đã nhắc tới ở trên, đặc biệt là bài “Hà Tây quê lụa” tôi vẫn hay hát mỗi lần liên hoan văn nghệ thời còn là sinh viên. Rất muốn làm quen, nhưng tôi ít nhiều ngần ngại thì được cố nhạc sỹ Đàm Linh – nguyên Phó Tổng thư ký Hội NSVN cho biết: “-Trông hắn thế nhưng tốt, có tài và dễ gần. Khi đã thân quen thì hắn chân tình và cởi mở”. Thế là tôi tiếp xúc được với Nhật Lai. 

Thấy tôi thuộc nhiều bài của mình, ông trở nên quý mến và đúng như Đàm Linh nói, ông cởi mở và thân mật. Bên trong con người trông có vẻ như một cán bộ tổ chức là cả một thế giới nội tâm phong phú và thú vị. Đến khi thân thiết hơn, tôi tò mò hỏi: “-Bà xã của anh chắc là người Tây Nguyên và xinh đẹp lắm?”. Ông chỉ cười và lắc đầu. 

Tôi lại hỏi: “-Không phải là vợ thì hẳn là anh phải có một tình yêu rất đẹp với một cô gái Tây Nguyên trong đời?”. Nhật Lai lại lắc đầu nhưng lần này thì hỏi lại tôi: “-Vì sao cậu có ý nghĩ như vậy?”. “-Vì em thấy lúc còn rất trẻ anh đã viết được những bài hát quá hay về Tây Nguyên, lại sống nhiều năm ở đó. Thường thì từ tình yêu cụ thể nào đó, người ta dễ viết nên những giai điệu tuyệt vời”. 

Ông cho biết đó chưa phải là những sáng tác sớm nhất trong đời mà bài hát đầu tay ông viết lúc mới 17 tuổi có tên “Chiều trên cầu Bồng Sơn”. Và ông tiết lộ: Có hai đời vợ. Vợ đầu tiên có cái tên rất hay: Châu Ngọc Lệ, người Khơ-me, là diễn viên múa. Trong bản giao hưởng “Đất lửa” viết sau khi chị qua đời, Nhật Lai đã dành hẳn một chương viết về người vợ yêu dấu của mình mang tên “Nước mắt viên ngọc”. Đúng nghĩa của ba tiếng “Châu Ngọc Lệ”. Sau một thời gian, ông gặp và kết hôn với người vợ thứ hai tên Hồ Thị Kha Y người Vân Kiều, là ca sỹ. 

Tôi nghĩ bụng: Ông nhạc sỹ này quả là đào hoa. Lấy hai người vợ thật đặc biệt, độc đáo, đều là nghệ sỹ, đều là người dân tộc. Chắc mỗi nàng sẽ có một phong vị riêng, lạ và độc đáo đây. Từ người vợ đầu tiên là diễn viên múa, ông viết được phần âm nhạc rất hay cho điệu múa “Rông chiêng” nổi tiếng, trở thành tác phẩm múa cổ điển của Việt Nam, không diễn viên múa nào thời nay không biết. Từ người vợ thứ hai dân tộc Vân Kiều, ông viết tác phẩm khí nhạc “Vũ khúc Tây Nguyên” và nhạc kịch “Bên bờ Krông-pa” để đời. Hẳn là ở nơi suối vàng, hai người phụ nữ đều tài sắc song toàn này mãn nguyện lắm!

Nhật Lai qua đời năm 1987, khi mới 56 tuổi. Quá đáng tiếc cho một tài năng âm nhạc phải tắt sớm khi đang ở độ tuổi sung sức nhất đối với người sáng tác. Năm 2002, ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về VHNT. 

10 năm sau – 2012 – tại quê hương ông ở huyện Tuy An (Phú Yên), diễn ra một đêm thơ, nhạc vô cùng cảm động tôn vinh sự nghiệp hoạt động và sáng tác của hai anh em Nhật Lai – Nguyễn Mỹ. Tình cờ, tôi được hân hạnh có mặt trong buổi này, chứng kiến sự hâm mộ, yêu quý của công chúng dành cho hai nghệ sỹ cách mạng. 

Thật thú vị, trong đêm này, một Việt kiều ở tuổi ngoài 70 là khách “không mời mà đến” đã đề nghị được lên sân khấu hát mấy bài về Tây Nguyên của Nhật Lai. Thì ra người Việt kiều này hồi trẻ đã từng sống nhiều năm ở Tây Nguyên, rất thích mấy bài hát này. Ông đồng hương với Nhật Lai, đang định cư ở Mỹ, đúng lúc về thăm quê ở Tuy Hòa thì biết có đêm thơ, nhạc này nên đã tìm đến dự. 

Trong lời tự giới thiệu, vị khách là ca sỹ nghiệp dư này nói: “-Nhật Lai cùng quê với tôi. Tuy không sinh ra ở Tây Nguyên nhưng nhạc sỹ đã rất am hiểu mọi phong tục, tập quán của người dân nơi đây. Và tuy lúc sống ở Tây Nguyên ông còn trẻ nhưng tôi nghĩ chẳng khác gì một già làng vậy”.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.