Một đôi kỷ niệm với tác giả bài thơ “Thời hoa đỏ”

Những người yêu thơ có lẽ không ai không biết bài thơ nổi tiếng “Thời hoa đỏ”. Càng nổi tiếng hơn khi bài thơ được phổ thành bài hát cùng tên.

Tác giả bài thơ là Thanh Tùng - sinh ra ở huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định (ông ra đời năm 1935) nhưng lớn lên, trưởng thành và nhiều năm sống ở Hải Phòng. Đến năm 1995, khi đã 60 tuổi, ông vào Sài Gòn cư trú những năm tháng cuối đời. Tại đây, nhà thơ đã trút hơi thở cuối cùng vào ngày 12-9-2017 bởi căn bệnh ung thư dạ dày, hưởng thọ 83 tuổi.

Thanh Tùng là một gương mặt thơ độc đáo. Không chỉ bởi chất lượng tư tưởng, tình cảm và thẩm mỹ đặc biệt ông tạo dựng được trong mỗi bài thơ mà còn bởi cuộc đời quá chìm nổi, vất vả, long đong theo đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của những từ này.

Sinh trưởng trong một gia đình công chức tiểu tư sản nhưng Thanh Tùng không gặp may mắn, thuận lợi ngay từ đầu. Học xong phổ thông, ông theo học trường thể dục thể thao rồi trở thành giáo viên dạy thể dục ở một trường phổ thông. Sau đó chán nghề, bỏ để phiêu bạt qua nhiều công việc khác.

Nhà thơ Thanh Tùng.
Nhà thơ Thanh Tùng.

Có thời gian làm phu khuân vác, sau làm công nhân ở Xí nghiệp Đóng tàu Hải Phòng. Có khi làm nghề áp tải hàng lên Hà Nội. Lúc bài thơ “Thời hoa đỏ” ra đời rồi sau đó thành bài hát rộ lên ở khắp nơi, tác giả thơ vẫn còn bán sách ở vỉa hè. Nghĩ đến Thanh Tùng, tôi lại nhớ nhà văn nổi tiếng của nước Nga hồi đầu thế kỷ 20 Mácxim Goócky. Văn hào này từng làm nhiều nghề rất cực nhọc, vất vả, kể cả móc cống để kiếm sống trước khi trở thành tên tuổi lỗi lạc.

Lần đầu tiên tôi có dịp tiếp xúc với Thanh Tùng là vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước. Hồi đó, tôi có một kỷ niệm sâu nặng ở Hải Phòng khiến tuần nào từ Hà Nội cũng tìm mọi cách để về thành phố này, dẫu chỉ vài giờ rồi lại phải trở lên ngay.

Một lần, tình cờ tôi tiếp xúc với một người và được nghe giới thiệu là nhà thơ Thanh Tùng. Thoạt nhìn, tôi chưa có ấn tượng gì về con người mới gặp lần đầu này, bởi nhà thơ bắt đầu có chút tên ở thành phố Cảng trông có phần lam lũ, chẳng có vẻ gì là dân văn nghệ, mặc dù trong mặc định của tôi, nhà thơ ít nhiều đều “lập dị”. Thanh Tùng không lập dị theo nghĩa thông thường nhưng đúng là một nhà thơ công nhân trăm phần trăm với dáng vẻ có phần thô ráp, sơ sài.

Nhưng tiếp xúc lâu, thấy rõ từ ông toát ra một vẻ dung dị, có chiều sâu và một tình cảm nồng hậu, chân thành. Rồi những lần gặp sau đó, tôi ngày càng quý trọng hơn, nhất là khi được biết ông có những bài thơ hay mà tôi đọc thấy câu nào cũng thú vị, nhất là thơ tình: “Anh đang góp nắng đầu hè/ Gọi hương sắc dậy, rừng ve chín đều/ Gió vàng xô bức tranh thêu/ Phượng vàng tô điểm, tình yêu trở mùa/ Hoàng hôn lãng đãng mõ khua/ Bến sông vọng tiếng chuông chùa bâng quơ…” (Bức tranh tình).

Mấy câu thơ trên hay. Riêng 2 câu cuối quá đặc sắc, gieo vào người đọc cảm giác cực kỳ bâng khuâng, trống vắng thật khó tả. Hoặc nữa: “Gió xua nỗi nhớ giăng ngang/ Con tàu cắt sóng bẽ bàng mặt sông/ Bên này bến vắng đò không/ Bờ kia hoang lạnh, trắng đồng mây bay /Đâu rồi cánh áo hoa lay/ Chẳng bồi, chẳng lở mà cay mắt nhiều…” (Tìm).

Tác giả sù sì, có phần thô sơ nhưng thơ thì quả là rất thi sỹ (không phải bất cứ nhà thơ nào kể cả có tên tuổi cũng có thể gọi được là thi sỹ. Danh xưng này gắn với những nhà thơ sở hữu những câu, bài thơ hay nhưng phải giàu yếu tố lãng mạn và duy mỹ). Khi ấy, bài thơ “Thời hoa đỏ” đã ra đời nhưng thú thực là tôi chưa biết nhiều. Đến khi trở thành bài hát, tôi mới đi sâu tìm hiểu phần thơ thì càng được tô đậm thêm cái cảm quan thi sỹ khi nghĩ về Thanh Tùng, nhất là những câu: “Mỗi mùa hoa đỏ về/ Hoa như mưa rơi rơi/ Cánh mỏng manh tan tác đỏ tươi/ Như máu ứa một thời trai trẻ/Trong câu thơ của em anh không có mặt/ Anh đâu buồn mà chỉ tiếc/ Em không đi hết những ngày đắm say…”.

Những câu thơ trên rất ám ảnh, đọc một lần không thể quên, giống như một cô gái vừa xinh đẹp vừa giàu cá tính, ta gặp một lần rồi nhớ mãi, dễ phải lòng nếu gặp lại lần thứ hai. Bài thơ này Thanh Tùng viết về ngưởi vợ tên Thanh Nhàn liên quan đến cuộc hôn nhân đầu tiên nhưng đổ vỡ của mình.

Số là trước khi lấy nhau, chàng thi sỹ công nhân đất cảng cũng lụy vì tình lắm. Nàng ở huyện Vĩnh Bảo, cách thành phố Hải Phòng hơn 30km. Không ít lần từ thành phố, chàng bổ về tìm nàng chỉ để gặp vài giờ. Nhưng nàng lại đang đi Tiên Lãng (một huyện cũng thuộc Hải Phòng, giáp với Vĩnh Bảo). Thế là chàng lại lóc cóc đạp xe cà tàng đến Tiên Lãng tìm người yêu bằng được.

Thanh Tùng và người vợ đầu cùng các con.
Thanh Tùng và người vợ đầu cùng các con.

Si mê như thế mà cuộc hôn nhân chẳng tồn tại được lâu, rồi hạnh phúc cũng đội nón ra đi. Nhàn bỏ thi sỹ để đến với người đàn ông khác ở Quảng Ninh. Khi sống với người đàn ông sau chẳng được bao lâu thì nàng qua đời vì bệnh tim. Nghe tin, Thanh Tùng tức tốc tìm về bên linh cữu “nguyên phu nhân” để đưa tiễn nàng lần cuối cùng. Và sau đó, bài thơ “Thời hoa đỏ” ra đời với âm hưởng ngậm ngùi, xót xa đầy nuối tiếc. “Anh đâu buồn mà chỉ tiếc/ Em không đi hết những ngày đắm say”. Không hẳn là lời oán trách của thi sỹ mà là tâm trạng hối tiếc.

Sau cuộc đổ vỡ với Thanh Nhàn (khoảng năm 1973), Thanh Tùng sống bơ vơ, cô đơn ở Hải Phòng cho mãi tới năm 1995, khi đã 60 tuổi, ông vào cư trú ở TP Hồ Chí Minh rồi được nhà thơ Hoàng Hưng làm “bà Nguyệt” xe duyên cùng người vợ thứ hai. Người phụ nữ này từng là thanh niên xung phong thời kháng chiến chống Mỹ, do yêu thơ Thanh Tùng mà sẵn sàng nâng khăn sửa túi cho ông. Cuộc hôn nhân này êm đềm, bình lặng nhưng cũng khiến ông viết được “Trường ca phương Nam”.

Ai cũng nghĩ bài thơ “Thời hoa đỏ” hay, sâu sắc như thế thì người phụ nữ là nguyên cớ cảm xúc để tác giả viết nên hẳn phải là mối tình đẹp, mãnh liệt nhất của ông. Nhưng sự thực không phải như vậy. Thanh Tùng kể rằng, bóng hồng để lại cho ông cảm xúc đẹp, lãng mạn khiến ông đam mê nhất lại là một nữ nghệ sỹ rất xinh đẹp sau khi ông đã chia tay người vợ thứ hai. Cô này do yêu thích thơ của ông mà đã chủ động “tấn công” khiến ông phải “chạy trốn”, mặc dù trong lòng rất say mê và thấy mình may mắn, có phước lớn khi được người đẹp săn đuổi.

Có lẽ ông mặc cảm là mình đã già, lại nghèo nên khó có thể mang lại hạnh phúc về lâu dài cho cô nghệ sỹ kia. Những năm cuối đời, Thanh Tùng đã hoài niệm quá khứ mỗi khi nghĩ về thần tượng của trái tim mình, mãi mãi phải lùi xa để chiêm ngưỡng mà không dám đến gần: “Bây giờ tôi ăn một nửa/ Nửa giành cho những ngày xưa/ Bây giờ tôi đi giật lùi/ Tình yêu ở phía sau tôi”.

Thanh Tùng là nhà thơ thật đáng yêu. Ông đa cảm, rất dễ xúc động. Cứ mỗi khi có cảm xúc đặc biệt, thậm chí là lúc vui ông cũng dễ khóc. Tôi nhớ mãi kỷ niệm liên quan đến ông. Ngày ấy - năm1982 - cuộc tình đẹp của tôi ở Hải Phòng đã kết thúc. Nhưng vết thương lòng vẫn rỉ máu dai dẳng nên thi thoảng tôi vẫn về Hải Phòng, dạo bộ trên những đường phố để tìm lại những ngày xưa đã mất. Và để khuây khỏa, tôi lại tìm đến chơi với Thanh Tùng.

Ông đã chia sẻ khiến tôi phần nào vơi đi được nỗi buồn đau. Ông tặng tôi mấy câu thơ được ứng tác ngẫu hứng: “Hò hẹn nhiều để rồi chấm hết/ Để vỡ vụn những mảnh tim/ Gặt hái nhiều mà thóc chẳng đầy thêm/ Theo năm tháng chiếc bồ trống rỗng”.

Một lần khác, đang bù khú tại một quán nước, Thanh Tùng lại làm thơ tặng tôi (vẫn ngẫu hứng): “Có chàng nghệ sỹ Đình San/ Dạt dào cháy bỏng ngập tràn yêu thương/ Ai cũng muốn đi trọn đường…”. Vừa nghĩ đến đó thì có một “chiến hữu” của ông xuất hiện, sà vào quán. Thế là bài thơ phải bỏ dở để sau đó không có dịp làm tiếp. Chẳng hiểu câu thứ 4 sẽ là như thế nào? Và từ đó đến nay, đến phút ông nhắm mắt xuôi tay, tôi chỉ gặp lại được ông đúng một lần ở TP Hồ Chí Minh.

Do líu tíu nhiều chuyện nên không nhắc lại cái bài thơ ngẫu hứng bị bỏ dở đó. Và khi nghe tin ông vĩnh viễn ra đi, tôi tiếc thương Thanh Tùng như bao bè bạn, công chúng yêu mến ông. Tôi ngẩn ngơ, thương xót và chìm đắm vào những hoài niệm…

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.