Mộng ảo Đào Hải Phong

Đào Hải Phong là một họa sĩ làm thơ bằng tranh. Thế giới trong tranh của anh là thế giới thi họa. Mỗi một bức tranh giàu cảm xúc, giàu hình ảnh như một tứ thơ, một bài thơ hay và đẹp. Và anh như một nhà thơ kể câu chuyện của mình bằng hòa sắc...

Tôi chơi với một vài người bạn họa sĩ. Cảm tranh của họ, thiết tha rung động với vẻ đẹp mà họ tỏ bày, ấn tượng bởi những sáng tạo thẩm mỹ của họ mà thành ra tôi yêu hội họa, lân la đến với hội họa, viết về hội họa.  Trong quá trình tìm kiếm những vẻ đẹp ấy, tôi nhận ra những liên tưởng thú vị. Hội họa cho cả người vẽ lẫn người thưởng thức một cảm giác đắm say vô tận.

Hội họa mở ra một thế giới khác để mỗi người có thể tìm đến/thấy khoảng riêng của mình, để được đắm vào thế giới đẹp đẽ và nhiều mơ ước ấy.

Tranh của Đào Hải Phong dẫn dụ tôi lạc lối vào một không gian lạ, ở đó thi ca và hội họa quấn quýt vào nhau, nương tựa nhau, gợi mở nhau. Có thể nói, Đào Hải Phong là một họa sĩ làm thơ bằng tranh. Thế giới trong tranh của anh là thế giới thi họa. Mỗi một bức tranh giàu cảm xúc, giàu hình ảnh như một tứ thơ, một bài thơ hay và đẹp. Và anh như một nhà thơ kể câu chuyện của mình bằng hòa sắc. 

Tôi muốn làm thơ bằng hội họa

Tôi từng đến các triển lãm của anh để đọc những bài thơ bằng hội họa với màu sắc riêng lạ của anh. Tôi cũng đã đến xưởng vẽ của anh để đọc cả những bài thơ anh chưa từng công bố. Anh thú nhận trong cuốn sách "Lối Phong" để đời của mình rằng: "tôi muốn làm thơ bằng hội họa".

Có lẽ nhất quán với ý niệm ấy, với mục đích ấy, sở trường ấy mà Đào Hải Phong chú trọng biểu đạt và diễn tả cảm xúc của mình trong từng bức tranh đậm nét chất thi ca. Tranh của Đào Hải Phong thuyết phục người xem ngoài đẹp còn cả những gợi cảm đến nao lòng.

Tác phẩm “Con đường xanh” của họa sỹ Đào Hải Phong.
Tác phẩm “Con đường xanh” của họa sỹ Đào Hải Phong.
Tác phẩm “Bốn mùa bình yên” của họa sỹ Đào Hải Phong.
Tác phẩm “Bốn mùa bình yên” của họa sỹ Đào Hải Phong.

Nghệ thuật xét cho cùng nếu không gieo được vào thị giác, trí não người thưởng thức một sự ám ảnh lâu dài, để khi khép lại tác phẩm ấy, trong tâm tưởng người xem vẫn vang lên những dư âm về nó… thì chưa chắc nghệ thuật ấy đã mang lại được những giá trị đích thực.

Tranh của Đào Hải Phong nằm lại trong tâm trí người xem nhiều trường liên tưởng. Nó giày vò người xem bởi vẻ đẹp hư ảo, vẻ đẹp chênh vênh giữa thực và mộng. Nó gợi lên cho người thưởng thức một nỗi cồn cào khao khát kiếm tìm vẻ đẹp ấy trong thế gian mà họ đang đi qua. Nó để lại trong người xem những dư âm tiếc nuối về những vẻ đẹp nằm ở đâu đó mà dường như không phải là thế gian này. Xem tranh Đào Hải Phong xong, tôi thường thở dài với nỗi ngùi ngẫm trong lòng, rằng tìm đâu một khung trời "vĩnh viễn ướp hương hoa" để ta có thể chạm tay tới vẻ đẹp ấy.

Thế nên có đôi lúc đứng trước những bức tranh: "Hoàng hôn tím", "Con đường xanh", "Bình minh mưa", "Tiếng vĩ cầm", "Đồi trăng", "Hoàng hôn trắng", "Phố nhạc Jaz", "Đồi cổ tích", "Lâu đài"… tôi như một người lạc lối vào thế giới hoa mộng. Nhiều cảm xúc chợt đến ào ạt, trái ngược nhau, giày vò nhau bởi tôi như đứng trước một vẻ đẹp vừa hoàn hảo vừa mất mát.

Hoàn hảo bởi đẹp quá, và mất mát bởi tìm đâu ra vẻ đẹp ấy trong đời sống thực ở quanh mình. Nghệ thuật là vậy, nó để lại nhiều dư ba ám ảnh. Đứng trước bao nhiêu rực rỡ, lộng lẫy, kiêu sa và mơ mộng đầy thổn thức của Đào Hải Phong, tôi vẫn phải nhận về một một nỗi day dứt khôn cùng của tiếc nuối... cô đơn... lẫn như mất mát. Một chút gì đó của nỗi buồn vô ngôn cứ tan chảy trong lòng…

Tôi đã nhiều lần thắc mắc về những ngôi nhà, những cái cây trong tranh của Đào Hải Phong không có ở ngoài đời thực. Tôi không thể kiếm tìm những vẻ đẹp huy hoàng ấy trong thực tại. Có lúc tôi đã thoáng "oán hờn" vì bất lực, vì thấy nó hiếm hoi, khó kiếm tìm.

Tôi nghĩ Đào Hải Phong là một người "sùng đẹp", anh yêu thương và trân quý những vẻ đẹp lạ lùng của thế gian, của đời sống bình dị và yên lành. Anh trao gửi vào tranh tất cả sự trân trọng và tôn thờ tối thượng ấy với cái đẹp. Anh tạo ra một không gian cho cái đẹp ấy tồn tại và hiện hữu. Anh như người bảo vệ trung thành cất giữ cái đẹp theo cách cực đoan của riêng mình.

Bao bọc những giấc mơ đẹp của mình khỏi những rạn vỡ, những mất mát mà thế giới không ít thô lậu này có thể làm ảnh hưởng. Anh đóng khung những "hoàn hảo" của mình lên tranh để cho những vẻ đẹp ấy vĩnh viễn ở lại, ngát hương trong sự thanh bình… của trí tưởng tượng. Nghệ thuật nếu không gieo vào lòng người thưởng thức những ám ảnh, những giằng xé mâu thuẫn trong nội tâm liệu nó còn có sứ mệnh gì.

Ngay cả việc đặt tên tranh của anh đã như thơ, đã là một câu thơ, một tứ thơ mang nhiều sức gợi. Những: "Tiếng vĩ cầm", "Gió trời", "Nắng thênh thang", "Hồ trăng", "Dòng sông hát", "Ngõ trăng"… đủ đã thấy tâm hồn của Đào Hải Phong lãng mạn đến thế nào. Đặt tên tranh đẹp để xứng với những bức tranh rất đẹp, Đào Hải Phong đúng nghĩa là người tôn thờ cái đẹp. 

Thế mới biết vì sao tranh Đào Hải Phong được nhiều nhà sưu tập trong nước, trên thế giới săn tìm và yêu thích; được người yêu nghệ thuật tin dùng lựa chọn cả mấy chục năm nay; bị giới chép tranh, đạo tranh lựa chọn số một là bởi, ngoài hay và đẹp, tranh Đào Hải Phong còn gợi cho người xem mơ đến một ngôi nhà bình yên mà hạnh phúc.

Một ngôi nhà chứa những điều đẹp đẽ, những hạnh ngộ an lành. Nó như những bài thơ được chưng cất từ những rung động thiết tha với đời sống. Nó chở đầy những khát vọng yêu thương. Nó nói lên mộng ước của người họa sĩ về việc tạo ra một thế giới đẹp mà bình yên. Đào Hải Phong nặng lòng một tâm thế của người viết lên những ước mơ.

Thế giới của thơ và mộng, có mà không

Những câu chuyện mà Đào Hải Phong kể trong tranh của anh không rối rắm phức tạp. Thậm chí nó đơn giản vô cùng, bởi bấy nhiêu cũng chỉ là chuyện của ngôi nhà, những cái cây, trong đó gợi lên những khắc khoải xao xác về khát vọng hạnh phúc. Vẫn biết Đào Hải Phong là người viết cổ tích và tranh của anh là những câu chuyện cổ tích có hậu cho mỗi chúng ta tìm đọc, nhưng không hiểu sao tôi luôn cảm giác chênh vênh khi đặt mình vào khung cảnh ấy.

Những ngôi nhà, những cái cây có khi neo giữa dòng sông, có khi lưng chừng trời, có khi phập phồng trong màn sương mù, hay đang trôi giữa biển cả… Sự "chênh vênh bất hợp lí" của vật và cảnh, của vật và không gian, cộng với sự nổi loạn trong cách dùng màu đã làm nên một căn tính đặc biệt ấn tượng của Đào Hải Phong, dẫn lối người xem đến một miền cổ tích, một thế giới giữa thực và mộng.

Tính cách nổi loạn duy nhất trong con người thâm trầm mực thước chỉn chu Đào Hải Phong có lẽ là ở cách anh dùng màu. Cảm giác như bao nhiêu cái mực thước, cân bằng của anh đều bị tước bỏ, bị xóa sạch mỗi khi anh đứng trước giá vẽ. Ai đó nói tranh của Đào Hải Phong là thông điệp của bình an, hạnh phúc không hề sai, nhưng tôi còn thấy cả ở đó những chênh vênh bởi nội tâm phức tạp, nhiều mâu thuẫn giằng xé ẩn sâu phía dưới. Những giằng xé nội lực ấy như một dòng sông sục sạo cuộn chảy trong con người Đào Hải Phong mỗi khi anh cầm cọ.

Cái con người mộng mơ, bạo liệt và hoang dã đó giấu kín rất sâu. Hai con người trong một bản thể, tranh đấu nhau bạo liệt, triệt hạ nhau tận cùng, nhưng cũng yêu thương nâng niu và bao bọc chở che nhau tận cùng. 

Hình như chỉ có hội họa mới là nơi Đào Hải Phong thực hơn, dữ dội hơn. Ở đó anh an tâm tìm thấy nơi an trú và trút bỏ cảm xúc. Hội họa dường như là tri âm tri kỷ, là người bạn hiểu anh, độ lượng và thứ tha, dung chứa mọi giới hạn của anh. Ở đó Đào Hải Phong tha hồ phá bỏ mọi rào cản.

Nhưng có gì đó phía sau những gam màu chói nóng, kiêu hãnh kia, phía sau vẻ đẹp tròn trịa tràn đầy viên mãn kia, tôi vẫn thấy trong tranh của Đào Hải Phong nét mang mang buồn, mang mang một nỗi u hoài, nuối tiếc không diễn tả thành lời. Phải chăng đó là cốt lõi của âm dương ngũ hành, là căn cốt của vụ trụ, vừa có vừa không, có đấy mà không đấy… có có mà không không...

Vĩ thanh

Với nghệ sĩ, mỗi một tác phẩm là một con đường, là một đích đến, là một thử thách buộc mình phải chiến thắng. Sau mỗi một tác phẩm, người nghệ sĩ lại lang thang đi tìm bản ngã của mình. Nghệ thuật là vô đích.

Họa sĩ Đào Hải Phong từng thốt lên: "Bản thân tôi luôn quan niệm nghệ thuật là vô đích. Sau nhiều năm làm việc, tôi luôn cảm thấy những bức tranh chưa vẽ có thể chạm tới đích của mình chăng? Rồi bất chợt ngoảnh lại nhìn điểm xuất phát cũng chẳng thấy đâu nữa".

Như Bình

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.