Mối tình đẹp của nhạc sĩ đoản mệnh và hai tuyệt phẩm

Những người yêu âm nhạc không ai không biết hai bài hát cực kỳ nổi tiếng đã ba phần tư thế kỷ qua in hằn sâu đậm trong tâm khảm nhiều thế hệ công chúng. Hai bài của cùng một người sáng tác. Và tác giả này là một nhạc sỹ hết sức đặc biệt do có tài năng thiên bẩm quý hiếm nhưng lại vụt tắt rất nhanh do cuộc đời kết thúc quá sớm, lúc mới ở tuổi 24. Đó là nhạc sỹ Đặng Thế Phong với hai ca khúc bất hủ “Con thuyền không bến” và “Giọt mưa thu”. 

Cuộc đời người nhạc sỹ tài hoa nhưng bạc mệnh này tuy ngắn ngủi nhưng đã có quá nhiều thăng trầm và những khúc quanh không nhiều người biết. Nhưng ai đã rõ thì lại càng thấy bài hát có sức cuốn hút hơn bởi sự ra đời của nó được thôi thúc từ một trái tim luôn run rẩy và bùng cháy yêu thương.

Đặng Thế Phong sinh ngày 5-4-1918 ở thành phố Nam Định. Nhạc sỹ là con thứ hai trong một gia đình có 6 anh chị em. Bố ông là một công chức nhưng có máu văn nghệ, sống phóng túng nên cuộc sống cả nhà rất đạm bạc.

Khi cậu bé Phong học đến năm thứ hai bậc thành chung (tương đương lớp 7 bây giờ) thì người cha qua đời. Một mình người mẹ buôn thúng bán mẹt không thể nuôi nổi 6 người con nên cậu phải bỏ học, lên Hà Nội kiếm sống. Do có năng khiếu về họa nên cậu xin vẽ tranh minh họa cho một tờ báo và học hình thức dự thính tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Cậu tham gia một kỳ thi vẽ do nhà trường tổ chức bằng bức họa một cái cây rất đẹp nhưng chỉ có lá với mấy chiếc cành mà không có ngọn, tức cây cụt.

Nhạc sỹ Đặng Thế Phong.
Nhạc sỹ Đặng Thế Phong.

Vị giáo sư người Pháp tên là Tardieu rất khen tác phẩm của cậu nhưng phán: “Tranh em vẽ đẹp nhưng báo hiệu rằng em không sống được lâu đâu”. Không hiểu ông thầy có phép thần gì mà đã phán đúng về số phận của Đặng Thế Phong.

Vẽ minh họa cho tờ báo kia chẳng được lâu, Phong lại long đong lận đận kiếm sống bằng đủ mọi nghề. Ông cùng người chú họ phiêu bạt vào Sài Gòn rồi sang Campuchia, mở lớp dạy nhạc tại Phnôm Pênh. Đến tháng 8-1941 lại trở về Sài Gòn rồi ra Hà Nội.

Cuộc sống ngày càng khó khăn. Do phải lăn lộn kiếm sống mà sức khỏe của chàng thanh niên Đặng Thế Phong ngày càng sa sút, dẫn đến bị bệnh lao. Không có tiền chạy chữa, biết mình khó qua khỏi, ông nói người chú đưa về Nam Định để gần mẹ và các anh chị em và đến năm 1942, ông qua đời trên một căn gác tại số 9 phố Hàng Đồng, TP Nam Định.

Vậy là cuộc đời quá ngắn ngủi. Nhưng Đặng Thế Phong đã kịp để lại hai bài hát nổi tiếng như đã nói. Mỗi bài đều được ra đời từ những nguyên cớ cụ thể nhưng có một xuất phát điểm chung. Đó là hình bóng một người con gái đã chiếm trọn trái tim nhạc sỹ. Là một chàng trai khôi ngô, tuấn tú, có nước da trắng và môi đỏ như con gái, tính tình điềm đạm, nhẹ nhàng, lại đàn ngọt, hát hay nên Phong dễ được các cô gái để ý.

Tuy đã lên Hà Nội nhưng thi thoảng, chàng Phong vẫn về nhà ở Nam Định. Một cô gái có tên Tuyết bán chăn ở chợ Rồng rất duyên dáng đã lọt vào mắt xanh của chàng. Nhưng vốn bản tính nhút nhát, Phong không biết xoay xỏa làm quen cô như thế nào. Chàng bèn nghĩ ra một kế là viết sẵn lá thư rồi giả vờ vào hỏi mua chăn, mới nhét nhanh lá thư vào tay cô. Không biết thư Phong viết gì mà sau đó, cô đã khước từ lời cầu hôn của một anh chàng thông phán trẻ con nhà giàu có làm việc ở Tòa Đốc lý Nam Định.

Thế là từ đó, hai người chính thức có quan hệ gắn bó. Lúc thì Phong về Nam Định, khi thì Tuyết lên Hà Nội. Những cuộc hò hẹn rồi mong chờ trong sự bồi hồi nhung nhớ đã khiến trái tim chàng trai luôn rung lên những âm thanh kỳ diệu nhất để sau đó tuôn ra thành tác phẩm.

Một lần, Đặng Thế Phong cùng một nhóm bạn lên tỉnh Bắc Giang chơi. Đến đêm, mọi người tổ chức du thuyền trên sông Thương. Cuộc ngao du gần như thâu đêm, chẳng ai buồn ngủ. Đến khuya, Phong nhận tin người tình ở Nam Định bị ốm. Lòng dạ chàng bồn chồn. Thương, nhớ và lo lắng cho Tuyết, chàng ôm đàn vào trong khoang ngồi một mình viết nên bài “Con thuyền không bến” (“Đêm nay thu sang cùng heo may/ Đêm nay sương lam mờ chân mây/ Thuyền ai lờ lững trôi theo dòng/ Như nhớ thương ai chùng tơ lòng…”).

Nghe giai điệu có phần bằng phẳng với tiết tấu chậm rãi, dàn trải, ta thấy nổi rõ hình tượng dòng sông lững lờ trôi trong khung cảnh êm ả, thanh bình giữa ban đêm nhưng mang nặng tâm trạng buồn, nhớ, có chút gì đó u ẩn của tác giả. Thấy Phong ôm đàn âm ư trong khoang thuyền, các bạn biết anh đang sáng tác. Sau đó, họ yêu cầu Phong hát cho nghe.

Nghe xong, họ nói: “Hay đấy. Nhưng sao buồn thế? Có thất tình đâu. Đang được đấy chứ. Nhớ người yêu nhưng phải vui lên chứ”. Đặng Thế Phong hát đi hát lại để cố sửa cho bớt buồn theo lời các bạn góp. Phạm Duy – một nhạc sỹ cũng rất nổi tiếng cùng thời với Đặng Thế Phong có lần cho biết: Lúc đầu, bài hát này còn buồn nữa. Bài ta biết bây giờ là sau khi tác giả đã sửa lại, cắt bớt một số câu và đẩy tốc độ nhanh hơn chút ít.

Ảnh bìa nhạc phẩm “Giọt mưa thu” lúc mới ra đời.
Ảnh bìa nhạc phẩm “Giọt mưa thu” lúc mới ra đời.

Ngay sáng hôm sau, nhạc sỹ lao về Nam Định với Tuyết và hát cho nàng nghe. Gặp người tình, được chàng quan tâm chăm sóc, lại được nghe bài hát chàng viết từ mình, giành cho mình, Tuyết nhanh chóng bình phục. Sau đó, vì bài hát quá hay nên đã nhanh chóng lan tỏa; được trình diễn lần đầu ở Sân khấu Nhà hát lớn Hà Nội với sự thể hiện của nữ ca sỹ Vũ Thị Hiển. Từ TP Nam Định, Tuyết đã bỏ một ngày chợ để cùng lên Hà Nội, vào Nhà hát lớn, ngồi hàng ghế đầu bên cạnh Đặng Thế Phong nghe bài hát “người ấy viết về mình”. Sau lần này, mối tình giữa hai người càng thêm gắn bó keo sơn.

Đó là sự ra đời của bài “Con thuyền không bến”. Còn ca khúc “Giọt mưa thu” lại được xuất hiện trong hoàn cảnh khác cũng khá đặc biệt. Lúc Đặng Thế Phong từ Campuchia trở về Sài Gòn rồi ra Hà Nội, tiền bạc kiệt quệ, cuộc sống trở lại điệp khúc nghèo khó. Lúc này, Phong đã có quan hệ tình cảm khá mặn nồng với Tuyết. Vì nghèo khó nên chàng rất ngại về Nam Định, mặc dù rất nhớ người yêu. Tuyết nói sẽ gửi tiền giúp nhưng chàng nhất định không nhận.

Xa người tình, chàng vô cùng buồn và nhớ. Giữa tháng 7 mưa Ngâu rả rích, nhiều ngày liền ngồi thu lu trong nhà không đi đâu, Đặng Thế Phong đã viết nên bài “Giọt mưa thu” cũng với phong cách quen thuộc là buồn, sâu lắng. Âm nhạc bài này nổi rõ hình tượng những giọt mưa thánh thót rơi ngoài hiên phụ họa cho cõi lòng con người buồn đến tái tê: “Ngoài hiên, giọt mưa thu thánh thót rơi/ Trời lắng u buồn, mây hắt hiu ngừng trôi/ Nghe gió thoảng mơ hồ, ai khóc ai than hờ/ Vài con chim non chiêm chiếp bay trên cành/ Như nhủ trời xanh…”.

Khi căn bệnh lao của Đặng Thế Phong trở nên nặng, Tuyết đã hết mình chăm sóc người yêu. Cô âm thầm tìm mua thuốc ở nhiều nơi để mong chàng qua khỏi. Ngày nay, căn bệnh này không còn là nan y, có thể dễ dàng cứu chữa. Nhưng ngày trước là căn bênh rất nặng, phải chữa rất tốn kém mà khả năng khỏi không nhiều.

Tuyết đã không quản vất vả, tốn kém và bị lây bệnh để suốt ngày ở bên Phong, chăm sóc chàng. Khi Phong qua đời, có rất nhiều bạn bè, người quen thân đưa tiễn. Người ta thấy Tuyết mặc áo xô trắng để tang Phong như một người vợ chính thức. Tại Nam Định, rất nhiều năm sau, người ta vẫn còn trầm trồ khen ngợi mối tình đẹp của đôi trai tài gái sắc, đặc biệt là tình chung thủy, son sắt, cao cả của cô gái bán chăn ở chợ Rồng giành cho người yêu.

 Ngoài hai bài trên, Đặng Thế Phong còn một bài nữa viết trước đó là “Đêm thu” (1940) dành cho học sinh Hà Nội sinh hoạt lửa trại và chừng dăm bảy bài về các đề tài khác nhưng hai bài nhắc đến ở trên là xuất sắc hơn cả. Đó là hai viên ngọc quý trong nền tân nhạc Việt Nam.

Có thể nói, Đặng Thế Phong nằm trong số những nhạc sỹ tiêu biểu nhất cho dòng nhạc ta vẫn gọi là tiền chiến. Ông qua đời quá sớm là mất mát rất đáng tiếc, bởi chúng ta mất đi một tài năng lớn trong lĩnh vực sáng tác âm nhạc với rất nhiều hứa hẹn. Nếu ông không vội vàng ra đi và đồng hành cùng toàn dân tộc qua những chặng đường lịch sử sau này, chúng ta sẽ có thêm một nhạc sỹ tài ba và rất có thể thêm cả một họa sỹ cũng không kém phần xuất sắc như những Văn Cao, Nguyễn Đức Toàn, Hoàng Hà …– những nhạc sỹ kiêm cả họa sỹ.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.