Lương Ngọc Trác: Người nhạc sĩ tài năng, đức độ

Nói đến những nhạc sỹ suốt đời mặc áo lính, không thể không nhắc tới Lương Ngọc Trác (1928 - 2013). Ông cùng thế hệ các nhạc sỹ Quân đội: Trọng Loan, Nguyễn Đức Toàn, Văn An, Nguyễn Thành. Ít tuổi hơn chút nữa là Doãn Nho, Nguyên Nhung, Huy Thục... 

Sinh năm 1928, quê ở Gia Lâm (Hà Nội), Lương Ngọc Trác sớm tham gia bộ đội, ở Trung đoàn Thủ đô. Sau hoà bình lập lại (1954), ông liên tục làm Trưởng Đoàn Văn công Quân đội của Tổng cục Chính trị vào các năm 1954, 1958, 1966, 1983 cho đến lúc nghỉ hưu.

Tên tuổi Lương Ngọc Trác gắn liền với những bài hát nổi tiếng một thời: "Mơ đời chiến sỹ", "Thủ đô huyết thệ", "Ngày về", "Lô Giang", "Trường chinh ca", "Bài ca gửi đất liền", "Ta đi trong nắng mới", "Những ô cửa sổ"… Ngoài ra, ông còn sáng tác nhiều tác phẩm khí nhạc, viết nhạc cho múa, sân khấu, điện ảnh.

Nói đến Lương Ngọc Trác, ngoài sức thuyết phục của những bài hát vừa nhắc, không thể không nói đến đức độ, nhân cách quý hiếm, không phải người nghệ sỹ nào cũng có được. Trước hết là trong công tác, trong quan hệ đồng chí, đồng nghiệp.

Từ khi Đoàn Văn công Quân đội được thành lập đến nay, trải qua nhiều đời trưởng đoàn, chỉ có ông được cấp trên tín nhiệm trao trách nhiệm này tới 4 lần như đã nói. Cũng bởi vì một ai đó đang làm một thời gian, phát sinh những điều bất ổn, phải thay thế. Nhìn đi ngắm lại, người ta thấy không ai được bằng Lương Ngọc Trác.

Thế là lại phải mời ông làm. Chuyện rằng, khi nhắm người khác vào cương vị này, họ đã nói: "Tôi làm không thể bằng anh Trác. Xin cứ mời anh ấy trở lại làm". Và người này cương quyết từ chối. Nể tổ chức, Lương Ngọc Trác đành lại phải nhận lời dù trong thâm tâm không muốn.

Ông từng nói: "Còn nhiều anh em sung sức hơn tôi. Nên để họ làm. Tôi có thể đứng đằng sau trợ giúp. Làm nhiều quá e sẽ xơ cứng, không có sáng tạo". Nhưng ông được anh em diễn viên tín nhiệm, yêu cầu tổ chức cứ quyết định. Người khác, họ không ủng hộ. Vậy là ông lại phải chiều anh em. Nhưng đã nhận việc thì ông làm hết mình với tinh thần trách nhiệm cao nhất.

Ông luôn tìm cách khai thác mọi tài năng của diễn viên, nhẹ nhàng nhắc nhở khuyên bảo mỗi khi có ai mắc khuyết điểm gì, chứ không bao giờ gay gắt, đao to búa lớn. Không ít trưởng đoàn văn công có sáng tác thường hay biến đơn vị thành sân chơi riêng, lạm dụng quyền để dàn dựng nhiều tác phẩm của mình.

Anh em diễn viên phải biểu diễn nhưng trong lòng không thấy thoải mái vì chất lượng tác phẩm non kém, không bằng những tác giả khác. Nhưng Lương Ngọc Trác thì không bao giờ làm việc này, mặc dù có nhiều tác phẩm mới, chất lượng. Tôi nhớ vào năm 1984 gì đó, một diễn viên của đoàn có ý muốn dựng một ca khúc của tôi để chuẩn bị thông qua hội đồng nghệ thuật. Đó là một chương trình có chủ đề. Lúc này, chưa có đủ bài mà thời hạn hoàn thành chương trình đã cận kề.

Lương Ngọc Trác đành chọn một bài của mình để cho đủ. Đúng lúc đoàn đang triển khai tập bài của Lương Ngọc Trác thì diễn viên trình bài của tôi ra. Lương Ngọc Trác nghe xong liền rút bài của mình về, lấy bài của tôi. Anh em đề nghị cứ để bài của ông mà rút bài khác ra. Nhưng ông không đồng ý. Ông nói với mọi người: "Chúng ta cần nhiều cộng tác viên. Họ đến với chúng ta là điều rất quý. Vậy nên bần cùng lắm mới phải dựng bài của trưởng đoàn".

Nói vậy nhưng với anh em trong đoàn có sáng tác tốt, ông cũng rất khuyến khích. Quả là một xử sự ngược hẳn với nhiều vị trưởng đoàn khác. Họ sẵn sàng bỏ bài ở ngoài để đưa bài mình vào. Lương Ngọc Trác luôn được anh em tâm phục, khẩu phục là vì thế.

Cả 4 lần ông làm trưởng đoàn đều là những thời kỳ Đoàn Văn công Quân đội phát triển mạnh, có nhiều chương trình phong phú phục vụ các chiến sỹ khắp các miền biên giới, hải đảo. Và tình hình nội bộ cũng tốt nhất. Không một lần nào dưới thời ông quản lý, Đoàn bị trên về thanh tra điều gì. Ông thực sự như một người cha, người anh đối với các diễn viên. Cũng dưới thời ông lãnh đạo, nhiều diễn viên ở các đoàn khác xin về đầu quân bởi họ vừa ngưỡng mộ tên tuổi, vừa nghe đồn về đức độ của ông.

Sớm nổi tiếng, lại luôn làm công tác quản lý nhưng Lương Ngọc Trác bình dị, khiêm nhường, sống tình cảm, nhẹ nhàng, tế nhị. Tôi nhớ mãi một kỷ niệm với ông cách đây đã lâu. Đó là mùa đông năm 1964. Lúc ấy, tôi vừa vào học năm thứ nhất Khoa Văn, Trường Đại học Tổng hợp (nay là Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn).

Để chuẩn bị chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11, trường có tổ chức một đêm văn nghệ lớn. Khoa Văn chúng tôi dưới sự chủ trì của Diệp Minh Tuyền tập bài hợp xướng "Trường chinh ca" của Lương Ngọc Trác (anh Tuyền khi ấy là sinh viên năm cuối cùng sắp tốt nghiệp ra trường, vừa dàn dựng vừa dệm đàn ác-cooc-đê-ông. Sau này anh trở thành nhà thơ, nhạc sỹ).

Tôi được trao nhiệm vụ lĩnh xướng một đoạn khá dài (đơn ca với sự phụ hoạ của các bè đệm): "Chúng ta cười, nhìn gió bay làm tung manh áo tả tơi. Rét run người vì sốt, bao mồ hôi rơi xuống gắng cười. Chốn sa trường vì nước bao chàng trai anh dũng vì dân. Đã bao lần thề thốt bên mộ chàng trai ấy, hờn oán…".  Tôi bèn tìm đến gặp Lương Ngọc Trác để vừa muốn gặp người nhạc sỹ nổi tiếng, vừa nhờ ông "bồi dưỡng" thêm để nắm bắt sâu sắc hơn tác phẩm giúp cho việc hát sẽ hay hơn. 

Thực ra việc sau chỉ là cái cớ. Cái chính là tôi - chàng trai 18 tuổi - muốn đến làm quen với nhạc sỹ mà mình yêu thích nhiều bài hát của họ từ lâu. Lúc gặp ông, tôi có phần dè dặt. Ngược lại, ông rất ân cần, tôn trọng người khách trẻ tuổi. Ông gợi ý tôi cách thể hiện bài hát, đặc biệt là đoạn lĩnh xướng cần hát sao cho cảm động như một khúc tưởng niệm. Và ông thị phạm để tôi hình dung. Không phải là ca sỹ nhưng ông hát rất truyền cảm. Tôi nghe rất thích.

NS Lương Ngọc Trác chăm sóc vợ lúc hai ông bà còn sống.
NS Lương Ngọc Trác chăm sóc vợ lúc hai ông bà còn sống.

Trước khi tôi ra về, ông hỏi rõ ngày, giờ, địa điểm diễn ra buổi liên hoan văn nghệ ở trường tôi. Ông nói với tôi là sở dĩ hỏi rõ để ông sẽ đến dự, nghe hợp xướng thế nào, tôi lĩnh xướng ra sao. Tôi nói rõ, ông ghi cẩn thận vào cuốn sổ tay bé xíu. Ông nói vậy nhưng tôi nghĩ có thể ông sẽ không đến do bận nhiều việc. Hơn nữa, đây là một buổi văn nghệ rất bình thường của một trường đại học, chẳng có gì đặc biệt khiến ông phải quan tâm, dẫu có trình diễn bài của ông.

Ông không quên dặn tôi: "Anh sẽ cố thu xếp thời gian đến xem các em biểu diễn, nhưng đừng nói gì với ban tổ chức. Cứ coi anh như một người nào đó vào xem. Và nếu San có nhìn thấy anh thì cứ tập trung vào công việc, đừng nói với ai là có anh xuất hiện. Nhớ đấy". Quả nhiên, lúc đang hát, nhìn xuống phía dưới, tôi nhận ra ông ngồi tít ở phía dưới cùng phu nhân là nghệ sỹ kịch nói Thuỳ Chi (lần đến nhà ông trước đó, tôi đã biết bà).

Nghe lời ông dặn, biết ông không muốn ai đón tiếp mình, tôi đã coi như không nhìn thấy ông. Sau tiết mục đó, tôi còn đảm đương nhiều vai trò khác trong chương trình nên không thể ra chào vợ chồng ông. Bẵng đi 20 năm, đến năm 1984, với việc có bài trong chương trình của Đoàn Ca múa Quân đội như đã nói, tôi mới gặp lại ông trong buổi tổng duyệt chương trình. Ông nhận ngay ra tôi. Và tôi đã hỏi ông :

- Lần ấy, 20 năm rồi, anh còn nhớ đã vào trường em dự đêm văn nghệ mà bọn em có hát bài "Trường chinh ca" của anh không?

Không một chút nhíu lông mày để nhớ lại, Lương Ngọc Trác trả lời luôn:

- Nhớ chứ. Hôm đó Nguyễn Đình San lĩnh xướng hay đấy. Mình còn nghe cậu đơn ca sau đó nữa. Mình xem cả chương trình mà.

Rồi ông nói thêm:

- Học văn ra lại thành nhạc sỹ, cũng hay.

Lương Ngọc Trác là như thế. Dẫu chỉ tiếp xúc với ông một lần cũng không thể quên. Và ông cũng không dễ quên những việc đã lùi vào quá khứ từ lâu như cuộc đến dự chúng tôi diễn văn nghệ mùa đông năm 1964 chẳng hạn. Nhưng đức độ, nhân cách của ông còn được thể hiện rõ trong việc ông chăm sóc người bạn đời của mình. Bà Thuỳ Chi - vợ ông - là diễn viên kịch nói, trước khi qua đời bị liệt nhiều năm, phải ngồi xe lăn. Ông trực tiếp chăm sóc bà tận tụy, không để ai mó tay vào. Hàng ngày, ông đẩy xe cho bà đi dạo ngoài thiên nhiên.

Vất vả, cũng đã cao tuổi nên sức khoẻ yếu, ông vẫn rất vui vẻ, có thể nói việc ông ở bên vợ suốt 24/24h trong ngày luôn làm cho bà vui, lạc quan để vượt qua bệnh tật. Đến khi bà qua đời, ông bị hẫng hụt lớn, dẫn đến đổ bệnh để rồi cũng đi theo bà vào năm 2013, hưởng thọ 85 tuổi.

Đức độ, nhân cách của Lương Ngọc Trác quả là không có nhiều trong giới văn nghệ sỹ. Cùng với giá trị của những tác phẩm, phẩm chất này của ông lại càng tăng thêm lòng ngưỡng mộ của công chúng dành cho ông.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.