Lục bát Hoàng Cầm

Trong gia tài mấy trăm bài thơ (không tính truyện thơ, kịch thơ) Hoàng Cầm đã công bố chính thức trong các ấn phẩm, tuyển tập được xuất bản, có thể dễ dàng nhận thấy, thơ tự do là thế mạnh của Hoàng Cầm và hình thức này dĩ nhiên cũng chiếm tỷ lệ lớn nhất trong các tác phẩm của ông. Thế nhưng, là một người thấm đẫm chất văn hóa cổ truyền và hồn quê Kinh Bắc, hồn thơ Hoàng Cầm vẫn dành một góc riêng cho lục bát.

Bài lục bát đầu tiên của Hoàng Cầm, có lẽ cũng là bài thơ đầu đời của ông, được ông kể lại trong phần Vỹ thanh của tập "Về Kinh Bắc": “Rồi thứ bảy sau, về nhà, tôi trao bức thư tỏ tình đầu tiên viết bằng thơ lục bát, dài hơn một trang giấy kẻ học sinh trên có vẽ hoa vẽ bướm, một vài ngọn núi, một dòng sông với chữ viết đậm, mực tím, nắn nót: Em gửi chị Vinh của em”.

Bài thơ ấy, lẽ dĩ nhiên đã thất truyền, không thể tìm lại được nữa. Nhưng một điều ta có thể chắc chắn, ấy là tình yêu lục bát đã đến với Hoàng Cầm từ thuở ấu thơ, đúng như ông tiếp tục tự bạch trong phần sau của bài viết: “Thể lục bát thấm vào người từ nhỏ tuổi, mình lại bẩm sinh yêu thích thơ ca, nên tôi có viết bức thư tình gửi người con gái Kinh Bắc, người Chị làm em say mê ngơ ngẩn suốt năm năm ấy, mà thư tình lại viết bằng thơ lục bát thì hẳn không phải là điều gì đáng ngạc nhiên phải không, thưa các bạn?”.

nhà thơ hoangcam.jpg -0
Nhà thơ Hoàng Cầm.

Thời kháng chiến chống Pháp, bài thơ nổi tiếng nhất của Hoàng Cầm là “Bên kia sông Đuống”, dẫu nhìn tổng thể là một bài thơ theo thể tự do với 134 câu thơ dài ngắn khác nhau, xong rải rác trong đó vẫn vụt sáng lên những cặp lục bát thật ấn tượng: “Lá đa lác đác trước lều/ Vài ba vết máu loang chiều mùa đông”. Một cặp lục bát mà diễn tả được bốn cái chết: cái chết của lá, cái chết của con người, cái chết của ngày (buổi chiều) và cái chết của năm (mùa đông). Một cảm giác tái tê, buồn thương, đau xót bao trùm lên câu thơ khiến người đọc không thể quên được. Tuy thế, càng về cuối, âm hưởng của bài thơ càng tươi sáng hơn và khép lại tác phẩm chính là một câu lục bát với đầy tin yêu hy vọng, hiện lên vẻ đẹp lộng lẫy rực rỡ của người con gái Kinh Bắc: “Em đi trảy hội non sông/ Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh”.

Sau “Bên kia sông Đuống”, “Về Kinh Bắc” là tập thơ độc đáo và quan trọng bậc nhất trong gia tài thơ Hoàng Cầm. Thể tự do rõ ràng là hình thức đắc địa nhất cho việc diễn tả một tâm trạng đứt – nối, mơ lớn hơn thực, tâm cảnh lớn hơn ngoại cảnh…, thế nhưng vẫn có một vài cặp lục bát được in bóng hình: “Chìa vôi quệt gió hững hờ/ Bờ ao sáo tắm bao giờ…hở Em” (Theo đuổi).

Cho đến tập “Mưa Thuận Thành” (1991), khi thi sĩ sang tuổi 70, dường như hồn xưa gọi về mạnh mẽ, thơ ông từ đây mới xuất hiện những bài thuần lục bát. Tâp “Mưa Thuận Thành” gồm 33 bài thơ, trong đó 8 bài rút từ tập "Về Kinh Bắc" và 25 bài mới. Trong 25 bài mới này có 5 bài lục bát (chiếm tỷ lệ 20%): “Đi bên em”, “Gọi đôi”, “Ngày giỗ”, “Kỷ niệm”, “Xanh xưa”.

Lục bát của Hoàng Cầm mang đậm phong vị cổ điển ở ngôn ngữ, nhịp điệu, trong đó mỗi bài thường lấp lánh những câu thơ bất ngờ: “Hàng mi em rớt ánh sao/ Em đi chân đất khuất vào cõi anh” (Đi bên em), “Thôi em! Cỏ mịn chân đê/ Anh đưa em nhẹ gót về xanh xưa/ Chỉ tay xuống đất làm mưa/ Mát chân em khỏa lững lờ nguồn xuân” (Xanh xưa). Hay nhất mà cũng là buồn nhất trong 5 bài lục bát của "Mưa Thuận Thành" là “Ngày giỗ”, bài thơ tưởng nhớ người vợ của thi sĩ đã mất tròn 2 năm: “Em ở đâu Tôi ở đâu/ Hai năm cỏ bén rễ sâu trên mồ/ Đi thăm bụi đất chiều mưa/ Giun kêu thăm thẳm cứ ngờ tiếng em/ …Em đi một loáng trăm năm/ Nơi đâu em ngủ tôi nằm lênh đênh/ Đầu nghiêng gối nặng tay mình/ Cùng nghiêng mắc áo dáng hình cheo leo/ Về khuya mê bóng bóng theo/ Nhìn chênh thế kỷ bóng vèo qua mi”.

Sang tập “Lá diêu bông” (1993) gồm 48 bài thơ mới chưa từng công bố trước đó, số bài lục bát đã tăng lên thành 18 bài, chiếm tỷ lệ 37%. Phong cách lục bát trong tập này kỳ ảo hơn, hầu hết đều là các bài thơ tình, những mối tình buồn, dở dang, tan vỡ: “Nắng em nắng đến siêu hình/ Như môi như mắt như mình như không/ Mưa em mưa đến hãi hùng/ Lìa khoang xanh xiết xuống vùng dấn thân…/ Cái buông ngã sấp bốn bên/ Cái cầm rơi ngửa cho bền quạnh hiu” (Nghĩ thương), “Anh đi về phía không em/ Em đi về phía dài thêm bão bùng/ Anh đi sắp đến vô cùng/ Em đi sắp đến cánh hồng đang rơi” (Hai ngả).

Có những bài lục bát tràn đầy nhục cảm: “Tình cờ đâu triệu triệu năm/ Bỗng nằm bỗng thắm bỗng chằm hai thân/ Bỗng âm dương toát mình trần/ Để sinh chi chít mắt ngần chớp mi/…Vỡ mây nắng lảy mưa rơi/ Vỡ em trần tóc trôi dài trăm năm/ Vỡ anh bừng tiếng kêu thầm/ Vòng mê nũng gối nguyệt cầm gọi đôi/…Ôm anh suốt đợt sóng trào/ Vẫn thèm nghén nghẹn cồn cào của chua” (Thèm).

Trong nhiều bài lục bát ở tập này, thi sĩ chìm trong nỗi cô đơn xa xót nghẹn ngào, dường như ông vẫn chưa thể nguôi ngoai nỗi nhớ thương người vợ hiền: “Em lại đi…Sao cứ đi/ Ngẩn ngơ vũ trụ còn gì trong tay…/Em trao vẹn cả bơ vơ/ Cái đau băm nát lời thơ máu trào” (Tinh anh thể phách). Nhà thơ cất lên những câu hỏi ngơ ngẩn, những câu hỏi không bao giờ có lời đáp: “Em đi lâu thế về đâu/ Sao đi xa thế - Bao lâu em về” (Thể phách tinh anh). Nỗi cô đơn cùng tận đã cất lên thành những câu lục bát đớn đau, rớm máu, như thể rút ruột ra mà viết: “Tôi về nhặt lá đáy khe/ Ném lên cao… lặng mình nghe…thật người/…Miền im thẳm thắm môi tê/ Hôn em cạn máu đi về tận không” (Tu).

nhà thơ hoàng cầm bên dòng sông đuống.jpg -0
Nhà thơ Hoàng Cầm bên sông Đuống.

Đã có những lúc thi sĩ dường như muốn thoát ra khỏi vùng buồn đau cũ, để tìm kiếm cho mình một tình yêu mới. Cuộc yêu chưa kịp nhóm lên đã nhanh chóng lụi tàn, nhưng bù lại, một bài lục bát có tứ độc đáo ra đời: “Trận thua sát nút một không/ Em là chiếc bóng lăn trong xế chiều/ Anh là ngọn gió liêu xiêu/ Đưa em vào lưới sầu treo mạng gầy/ Còi ly tan xé cuộc này/ Phố xa một bóng ôm đầy số không” (Thua một không).

Sang tập “Tình khúc” (1996), tập này tuyển chọn nhiều bài của các tập trước và có thêm 17 bài mới, trong đó chỉ có một vài bài lục bát. Lục bát Hoàng Cầm lần đầu có thêm một diện mạo mới, ấy là tạo ra một cặp song thất đi trước dẫn đường cho toàn bộ phần lục bát của tác phẩm: “Anh mê em không bao giờ có/ Có bao giờ em nở tròn đêm/ Biết ai vẽ nổi hư huyền/ Cho anh ôm chặt mấy miền tịnh không” (Mê không em). Bài “Lời ru của anh” có những câu tha thiết, thương cảm. Đây có lẽ cũng là âm hưởng chủ đạo cho giọng điệu lục bát Hoàng Cầm: “Ngủ đi em gió lạnh rồi/ Màn the che nửa bóng người vào thu/ Ngủ đi…mắt nhắm sương mù/ Ngủ đi…sóng dựng song tù là xong/ Lời ru thoảng gió động phòng/ Gối tay bưng tóc khép vòng xót xa”.

“Đến từ hư không” có thể coi là tập thơ cuối cùng của Hoàng Cầm khi ông còn sống, gồm 111 bài, được in chung trong tuyển tập “Hoàng Cầm tác phẩm” (Quyển 1 - Thơ). Tập này có thêm 21 bài lục bát mới của Hoàng Cầm, sáng tác trong giai đoạn từ 1995 đến 2000. Như đã nói ở phía trên, giọng điệu chủ đạo trong lục bát Hoàng Cầm là giọng buồn thương. Khi Thái Bá Vân qua đời, thi sĩ cũng dùng chính những dòng lục bát để khóc bạn: “Tiếc anh vừa động nguồn đau/ Dòng thơ choáng đã nghẹn màu Bá Vân/ Tưới mồ anh chén tàn xuân/ Đưa anh về cõi tần ngần u linh/ Hẳn qua chín thác mười ghềnh/ Men không vượt nổi trăm vành buốt đau/ Hương hồn động biển thẳm sâu/ Bá Vân ôi! Thấu lòng nhau mấy lần/ Ôm nhau phút nữa Bá Vân!/ Mặc cho nước mắt thấm dần cõi không”… (Khóc Thái Bá Vân).

Tập “Đến từ hư không” của Hoàng Cẩm chia làm 4 phần với các tên gọi: “Đừng tìm phía cơn mưa”, “Rót tràn biển có”, “Đến từ hư không”, “Điệu lý cuối đời”. Phần cuối cùng của tập – “Điệu lý cuối đời” cũng là phần có nhiều bài lục bát nhất. Cảm xúc chủ đạo của Hoàng Cầm vẫn là nhớ về người vợ tào khang thuở nào: “Ảnh này đẫm nét buồn xưa/ Anh nghe bất chợt dòng thơ vĩnh hằng” (Bất chợt vĩnh hằng), “Gối lằn nếp nếp thương em/ Nếp xay chẳng giã từ duyên cuối đời” (Điệu lý cuối đời). Bên cạnh đó, ông dành những bài lục bát nhớ về người mẹ: “Mẹ tôi xưa cấy chỗ này/ Giờ thành siêu thị ngang cây cau vàng/ Giờ mẹ đâu, cuối bãi làng/ Dường như có bóng mèo hoang thoáng về/ Mẹ ơi con vẫn thầm nghe/ Năm nào hun hút xóm quê bay vèo” (Cánh diều lẻ bạn), “Có mùa tiếng hát rất xa/ Đêm thường vắng quá mẹ là nửa đêm” (Má lùi hết nắng).

Lục bát, giống như một sự trở về nguồn cội của Hoàng Cầm, để ông viết về những gì thân thương ruột thịt nhất. Đó là mẹ, là vợ, là quê hương, là bạn hữu tâm giao. Một trong những bài lục bát cuối cùng của Hoàng Cầm là bài ghép lại tên các tác phẩm thơ và kịch thơ mà ông đã xuất bản cùng những thi ảnh tâm đắc trong đời làm thơ của mình: “Một đời nợ suốt Diêu Bông/ Gọi đôi kết lứa xe hồng được đâu/ Nghiêng nghiêng Sông Đuống đôi câu/ Tung tình chín chín khúc sầu lẻ loi/Cỏ Bồng Thi nép ngậm ngùi/ Về với ta hóa mình xui phận mình/ Ngã ba sông chín hướng tình/ Về Kinh Bắc gặp rập rềnh Trương Chi/ Kiều Loan nghe dế đầu si/ Thuận Thành mưa lạnh chưa chi đoạn trường…”. (Ai xui chắp mảnh xe hồng). Thiết nghĩ, để góp phần làm nên một gia tài và sự nghiệp thơ Hoàng Cầm, không thể không nhắc đến những đóng góp đáng kể của thể thơ lục bát.

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.