Lữ khách ngước nhìn một khoảng trời thông

Sức quyến rũ của Tây Nguyên đã níu chân nhiều lữ khách. Màu đất đỏ bazan, nét đẹp mái nhà rông, hay rừng thông mờ trong sương, đã khiến nhiều người chọn nơi đây làm quê hương thứ hai. Nhà thơ - nhà báo Uông Thái Biểu cũng vậy. Anh sống với Tây Nguyên và anh viết về Tây Nguyên bằng sự run rẩy “nhớ núi” khôn nguôi!

Sinh ra và lớn lên ở Nghi Lộc, Nghệ An, Uông Thái Biểu sớm thấm thía nỗi mất cha “Bước chân mồ côi lê qua những cánh đồng hiu hắt/ Giọng hót chìa vôi khắc khoải véo vênh”. Vào được giảng đường đại học thì Uông Thái Biểu cũng chính thức tha hương lập nghiệp. Mảnh đất chôn nhau cắt rốn cồn cào sau lưng: “Quê hương tháng Mười, quê hương tháng Năm/ Quê hương cháy và thét gầm gió bão/ Ngõ vắng em về ánh trăng khuya chao đảo/ Cơn sóng trong mơ gợi nhớ đến nao lòng”.

Uông Thái Biểu cầm bằng cử nhân văn chương, và đi làm báo. Anh đã từng thử việc ở Sài Gòn và nhận công tác ở Hà Nội, ở Đà Nẵng nhưng rồi anh cũng xin quay lại Đà Lạt để được chậm rãi mơ mộng và suy tư: “Có người ngủ dưới tán thông/ Gầy quen hệt sợi cỏ bồng mong manh/ Câu lục theo gió hao hanh/ Chỉ còn câu bát nhập nhành trong sương”.

Đà Lạt đã cho Uông Thái Biểu những cơ hội sáng tạo và Đà Lạt cũng cho Uông Thái Biểu mái ấm gia đình. Hơn 30 năm gắn bó với Đà Lạt, Uông Thái Biểu dạt dào niềm riêng sâu thẳm: “Đà Lạt của tôi vó ngựa chiều mưa/ Lóc cóc dội về quán trọ/ Lữ khách dừng chân giữa đường mưa gió/Ngước nhìn một khoảng trời thông”.

Nhà thơ - nhà báo Uông Thái Biểu.
Nhà thơ - nhà báo Uông Thái Biểu.

Còn người mẹ nghèo vẫn lam lũ ở quê xưa, trở thành nỗi nghẹn ngào trong trái tim Uông Thái Biểu: “Trăm câu thơ cứ tang bồng hồ thỉ/ Từ ngữ thì thào những giai điệu kiêu sa/ Chiều nhớ làm thơ gửi mẹ già lội ruộng/ Gọi đến khản hơi con chữ chẳng hiện ra”. Anh đưa mẹ vào Lâm Đồng để thuận tiện chăm nom thăm viếng. Và anh lại đi, và viết. Đi như kẻ nhàn rỗi, viết như kẻ đọa đày, giữa ngổn ngang tỉnh táo và cuồng si: “Hình như lần ấy mưa/ Em đưa tôi qua như tiễn chiếc lá cuối cùng của mùa thu bên bức tường cổ/ Hình như lần ấy gió/ Gió mài từng sợi tóc/ Trắng trung du”.

Ở Uông Thái Biểu, luôn hiện diện nụ cười điềm đạm và đôi mắt hiền lành. Giọng Nghệ vẫn đậm đặc trong anh. Thế nhưng, nếu nhìn kỹ, bức chân dung Uông Thái Biểu luôn được bổ sung bởi hai mặt ngỡ chừng đối lập, lãng mạn và thực tế, khoan hòa và quyết liệt, thanh thản và sốt ruột. Vì sao như vậy? Vì anh tìm cách cân bằng giữa nhà thơ và nhà báo, giữa nhà thơ bâng quơ “Bài ca giọng trầm ai hát chiều nay/ Nghiêng nghiêng hoàng hôn lướt tràn mặt phố” và nhà báo đau đáu “Những lời khen thật giả sượng sùng/ Những lời chê thô bạo khoác màu trung thực/ Thật may sự thật không có màu gì cả/ Giấy trắng và mực đen”.

Với nhiều người, báo hại thơ, hoặc thơ hại báo. Với Uông Thái Biểu, báo và thơ lại sống chung khá ngoạn mục. Đôi khi thơ vụt đến trên đường anh đi tác nghiệp báo chí, mà cũng có lúc đề tài báo chí lại xuất hiện lúc anh chiêm nghiệm thi ca. Để chứng minh điều ấy, hãy tìm sự tương đồng trên hành trình báo - thơ song đôi của Uông Thái Biểu.

Nhà báo Uông Thái Biểu cảm nhận về Đà Lạt: “Sương phủ lên rừng thông, ẩm ướt mái nhà ngái ngủ. Cái lạnh thì tái tê. Trước ly cà phê nóng mỗi sáng, chúng tôi đan tay vào trong bít tất len mà khớp xương buốt nhức. Thời đó, Đà Lạt chưa phải là vùng có nhiều dự án, chưa đào núi, ủi đồi, chặt cây, lấp hồ. Đà Lạt hồi đó nhiều xanh, bởi chưa bị bọc bởi nhà kính, nhà lưới.

Đà Lạt hồi đó lưa thưa bởi công trình xây dựng chưa mọc lên điệp trùng như bây giờ. Đà Lạt hồi đó những cánh rừng nguyên sinh len cả vào nội ô, nơi nào cũng có cây và thảm cỏ…”. Còn nhà thơ Uông Thái Biểu lả lơi với Đà Lạt: “Đà Lạt của tôi/ Người bạn vong niên/ Gậy trúc khập khênh/ Gõ đá chênh vênh quán nhậu/ Chén rượu ngoại ô/ Ngấm một tiếng khà”.

Nhà báo Uông Thái Biểu tỉ mỉ viết về lễ hội của dân tộc thiểu số bản địa: “Ngày buôn làng mở hội. Những bắp chân trần quấn quyện vào nhau, quấn quyện vào ánh lửa, dưới bóng thần linh nguyện cầu cho mùa màng tốt tươi. Ngày gái trai trao vòng cầu hôn, hai cặp chân trần quỳ bên nhau hẹn thề trăm năm cầm sắt trước thần Sông, thần Núi. Người mẹ ôm con trẻ sơ sinh nhúng đôi chân măng tơ vào dòng suối ven rừng trong ngày lễ đặt tên Nhu Sđăn cũng mong cho con lớn lên chân cứng đá mềm.

Ngày Pơthi đưa hồn người đồng tộc về với cõi Yàng, những đôi chân trần lại quỳ bên nhau khóc tiễn. Người nằm xuống, rũ bỏ tất cả những mùa nhớ, tháng quên, chỉ mang theo đôi chân trần về miền xa thẳm”. Còn nhà thơ Uông Thái Biểu tranh thủ đu đưa cảm xúc: “Em luân vũ suốt lũy tre lươn lạch/ Ta quẩn quanh trong nghiên bút tò te/ Thì thủng thẳng cho gánh gồng trò chuyện/ Nhì nhằng mộng mơ suốt tháng hội hè”.

Tập thơ “Nhớ núi” của nhà báo Uông Thái Biểu.
Tập thơ “Nhớ núi” của nhà báo Uông Thái Biểu.

Mảnh đất Tây Nguyên trong mắt nhà báo Uông Thái Biểu rất khoáng đạt: “Tây Nguyên, những tháng gió. Những cơn gió trở mình không vật vã, không bùng lên thành những trận cuồng phong, không làm tơi tả cỏ cây. Những cơn gió không rít gầm như bão tố ở miền duyên hải. Gió thổi dài qua núi, qua đồi, qua sông, qua thác chỉ đủ lan tỏa lên mặt đất tất cả những chất chứa ngàn năm trong lồng ngực đại ngàn sâu thẳm. Những cơn gió hoang dại và phóng túng”.

Còn mảnh đất Tây Nguyên trong lòng nhà thơ Uông Thái Biểu lại trầm mặc: “Núi vẫn là núi cũ/ Tôi cũng là tôi xưa/ Núi cũ thì xanh mãi/ Tôi bây giờ héo khô/ Một ngày về ngang núi/ Gió lay bờ lau già/ Tình vương dài khe suối/ Hồn buồn như mưa qua”.

Nhà thơ - nhà báo Uông Thái Biểu có sự chăm chỉ và chịu khó đặc thù của người xứ Nghệ. Thế nhưng, anh cũng có cái thong dong của người phố núi sương mù. Sau những trang báo nóng hổi thời sự, Uông Thái Biểu lại trở về với thi ca để sẻ chia với người tình “Mưa trong đáy mắt hiu buồn/ Những ngón tay nhuộm hoàng hôn úa vàng/ Lầm đò dọc lỡ đò ngang/ Trốn tìm nhau giữa hỗn mang đất trời”, để trăn trở với người dưng “Ta dặn dò nhau lời năm trước/ Cơn gió cầu ao thổi cơ hàn/ Mưa rây giọt mảnh người thấp thoáng/ Chuyện xưa lành lạnh buốt tâm can”.

Nhà thơ - nhà báo Uông Thái Biểu có thể xem là một gương mặt thành đạt. Anh đang đảm nhận cương vị Trưởng cơ quan đại diện Báo Nhân Dân tại Tây Nguyên. Hàm Vụ trưởng, chứ có phải đùa đâu. Vậy mà Uông Thái Biểu vẫn rất dung dị, rất bình dân giữa bạn bè và đồng nghiệp. Thỉnh thoảng Uông Thái Biểu lại ghé về ngôi nhà xưa ở Nghi Lộc - Nghệ An để được hân hoan “Người đi về đâu về đâu người ơi/ Chín xứ mười phương biệt chim tăm cá/ Ta nay về đồng/ Về đồng lội ao vớt bèo/ Về đồng gội tóc chiêm bao/ Thịt da thoảng thơm mùi hương rơm rạ” và để có “Khúc tự tình của người trai chân đất” thảng thốt:

Tôi lại về với tiếng sáo lưng trâu
Nghe mê muội những cánh đồng u tịch
Bạn bè phiêu dạt
Một mình đánh trận ấu thơ

Cố hương ơi, chát trái bần chua
Nghe lòng tím ngắt
Bữa rét tháng mười bữa nắng tháng năm
Tuổi thơ tôi trôi vào cổ tích

Đất khổ phơi mình
Trời nghèo cúi mặt
Tôi nhặt dấu chân mình rơi dưới đáy hoàng hôn.

Bây giờ, nhà thơ - nhà báo Uông Thái Biểu ở tuổi 54, vẫn báo vẫn thơ mỗi ngày. Và anh nghĩ về chiều kích quá khứ để nhắc nhở tương lai: “Tiếng ngàn đời trong trầm giọng ầu ơ/ Dạy con cháu sinh nhai, dạy đời sau xử thế/ Những dây trầu thân cau nói thay lời đạo nghĩa/ Chim thần trả vàng đáp ơn người trồng khế/ Lòng tham không thể dài hơn túi ba gang/ Học một sàng khôn đi một ngày đàng/ Nhưng giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh/ Những bậc anh hùng, dân tôn thần thánh/ Kẻ cõng rắn cắn gà nhà, dân nguyền rủa không thôi”.

Tâm Huyền

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.